Xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách không phải lắp ghế an toàn cho trẻ em
Theo khoản 3 Điều 7 Luật số 118/2025/QH15 quy định sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 10 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 nêu rõ, khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và có chiều cao dưới 1,35m trên xe ô tô, người lái xe không được cho trẻ em cùng cùng hàng ghế, trừ ô tô chỉ có hai hàng ghế;Khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và có chiều cao dưới 1,35m người lái xe phải sử dụng, hướng dẫn sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em, trừ xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách.
Như vậy, từ ngày 01/7/206, tất cả xe ô tô cá nhân từ ngày 01/7/2026 khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và cao dưới 1,35m phải sử dụng thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, tuy nhiên xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách không bắt buộc phải lắp thiết bị an toàn – ghế an toàn cho trẻ em.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Bổ sung quy định về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe
Theo Nghị định 94/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định 160/2024/NĐ-CP quy định về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe như sau:
Bổ sung hạng D1 cho trung tâm loại 2
Căn cứ Điều 3 Nghị định 160/2024/NĐ-CP, trung tâm sát hạch lái xe loại 2 được phép tổ chức sát hạch và cấp giấy phép lái xe các hạng A1, A, B1, B, C1 và C. Trong khi đó, ở quy định mới, danh mục này được điều chỉnh còn A1, A, B1, B, C1 và D1. Như vậy, Điều 3 Nghị định 94/2026/NĐ-CP bỏ hạng C và bổ sung hạng D1 vào phạm vi sát hạch của trung tâm loại 2.
Bổ sung bắt buộc định danh số trong đào tạo lái xe
Điểm mới đáng chú ý tại Điều 9 Nghị định 94/2026/NĐ-CP là việc bổ sung khoản 4, quy định về hệ thống thiết bị và phần mềm ứng dụng định danh, xác thực điện tử, kết nối với các nền tảng số quốc gia thông qua API. Theo đó, đây là yêu cầu hoàn toàn mới, nhằm số hóa toàn bộ quá trình đào tạo, từ đăng ký học đến đăng ký sát hạch, đồng thời đảm bảo quản lý dữ liệu học viên thống nhất và có thể truy xuất điện tử.
Chuyển thẩm quyền cấp giấy phép lái xe tập lái sang Sở Xây dựng
Theo quy định cũ, thẩm quyền cấp giấy phép xe tập lái thuộc về Sở Giao thông vận tải đối với xe tập lái của cơ sở đào tạo do địa phương quản lý. Ngoài ra, quy định cũ có bổ sung hình thức giấy phép điện tử có mã QR và cơ chế đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở để tra cứu thông tin. Trong khi đó, quy định mới chuyển thẩm quyền này sang Sở Xây dựng thay vì Sở Giao thông vận tải.
Bổ sung quy định về nâng hạng giấy phép lái xe
Theo khoản 12 Điều 17 Luật sửa đổi, bổ sung 10 Luật về an ninh, trật tự 2025 đã sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 3 Điều 60 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 về việc đào tạo để nâng hạng giấy phép lái xe. Cụ thể, nâng hạng giấy phép lái xe từ hạng B lên hạng BE, từ hạng C1 lên hạng C1E, từ hạng C, D1, D2, D lên hạng CE, từ hạng D1 lên hạng D1E, từ hạng D2 lên hạng D2E, từ hạng D lên hạng DE.
Trong khi đó quy định cũ nêu như sau: Nâng hạng giấy phép lái xe từ hạng B lên hạng BE, từ hạng C1 lên hạng C1E, từ hạng C lên hạng CE, từ hạng D1 lên hạng D1E, từ hạng D2 lên hạng D2E, từ hạng D lên hạng DE.
Như vậy, từ 01/7/2026 quy định mới đã mở rộng đối tượng được nâng lên hạng CE, bổ sung thêm quy định người có giấy phép lái xe các hạng D1, D2, D được đào tạo để nâng lên hạng CE.
Bổ sung quy định hoàn tiền vé cho hành khách nếu chuyến bay chậm
Theo điểm b khoản 6 Điều 36 Nghị định 208/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm của người vận chuyển trong trường hợp chuyến bay bị chậm kéo dài có nêu rõ, đối với chuyến bay chậm từ 4 giờ trở lên, người vận chuyển phải hoàn trả toàn bộ tiền vé hoặc hoàn trả phần tiền vé chưa được sử dụng nếu hành khách không đồng ý với phương án thay đổi hành trình quy định tại điểm b khoản 4 Điều 36 Nghị định 208/2026/NĐ-CP.
Bên cạnh việc hoàn tiền vé, hãng hàng không còn phải thực hiện các nghĩa vụ áp dụng đối với chuyến bay chậm từ 3 giờ trở lên. Cụ thể, theo khoản 5 Điều 36 Nghị định 208/2026/NĐ-CP, người vận chuyển phải phục vụ đồ ăn hoặc cung cấp phiếu (voucher) có giá trị tương đương cho hành khách, đồng thời thực hiện các nghĩa vụ hỗ trợ khác theo quy định.
Ngoài ra, điểm c khoản 6 Điều 36 Nghị định 208/2026/NĐ-CP quy định người vận chuyển phải bồi thường ứng trước không hoàn lại cho hành khách đã được xác nhận chỗ và có vé trên chuyến bay. Khoản bồi thường này chỉ được thực hiện một lần đối với mỗi chuyến bay, bao gồm cả trường hợp chậm chuyến trên khoang theo quy định tại Điều 38 Nghị định 208/2026/NĐ-CP.
Đáng lưu ý, nghĩa vụ hoàn trả tiền vé và bồi thường ứng trước không hoàn lại nêu trên chỉ áp dụng đối với trường hợp chuyến bay chậm do lỗi của người vận chuyển.
Chứng chỉ đăng kiểm viên được cấp không thời hạn
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 22/2026/TT-BXD, đăng kiểm viên phương tiện giao thông đường bộ (sau đây viết tắt là đăng kiểm viên) là người được cấp chứng chỉ đăng kiểm viên để thực hiện một hoặc nhiều công việc chuyên môn quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2026/TT-BXD.
Ngoài ra, khoản 5 Điều 9, khoản 6 Điều 10 Thông tư 22/2026/TT-BXD quy định, chứng chỉ đăng kiểm viên được cấp không có thời hạn.Như vậy, chứng chỉ đăng kiểm viên được cấp mới hoặc cấp lại kể từ ngày 01/7/2026 sẽ không có thời hạn sử dụng.
Nguồn: TRẦN QUÝ (t/h) – Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam





Để lại một bình luận