Phạt vi phạm là biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng, chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật, như Bộ luật Dân sự (“BLDS”) năm 2015, Luật Thương mại (“LTM”) năm 2005 và Luật Xây dựng (“LXD”) năm 2025. Mặc dù được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật, nhưng vẫn tồn tại không ít nội dung pháp lý quan trọng liên quan đến mức phạt vi phạm hợp đồng chưa có quy định hoặc đã có quy định nhưng chưa rõ ràng. Ngoài ra, quy định về phạt vi phạm trong LXD năm 2025 chưa có văn bản quy định chi tiết, có thể gây lúng túng trong việc áp dụng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm giải quyết tranh chấp về mức phạt vi phạm của Tòa án và Trọng tài, nhằm giải thích và áp dụng thống nhất pháp luật đối với những vụ việc tương tự, là hết sức cần thiết.
Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung phân tích những vấn đề pháp lý mà các văn bản quy phạm pháp luật chưa điều chỉnh cụ thể, nên cần phát triển đường lối giải quyết trong thực tiễn thành án lệ hoặc nghị quyết hướng dẫn.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Ấn định mức phạt vi phạm theo lãi suất
Hiện nay, BLDS năm 2015, LTM năm 2005 và LXD năm 2025 đều có quy định về việc mức phạt vi phạm hợp đồng do “các bên thỏa thuận”, nhưng các bên có thể thỏa thuận ấn định mức phạt theo những phương thức nào thì các luật nêu trên chưa thật sự rõ ràng. Có quan điểm cho rằng mức phạt vi phạm có thể được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị hợp đồng hoặc một số tiền cụ thể.
Trong nhiều trường hợp, các bên còn thỏa thuận mức phạt vi phạm được ấn định theo một mức lãi suất nhất định, tính trên giá trị phần hợp đồng bị vi phạm và tương ứng với thời gian vi phạm. Thỏa thuận nêu trên có thể được mô phỏng thành công thức sau đây:
[Mức phạt vi phạm] = [Giá trị phần hợp đồng bị vi phạm] x [Mức lãi suất] x [Thời gian vi phạm].
Ví dụ, các bên thỏa thuận trong một hợp đồng như sau: “Nếu Bên A thực hiện tạm ứng và thanh toán không đúng quy định trong Hợp đồng thì Bên A chịu phạt 1% giá trị hợp đồng trên một ngày chậm (nhưng không quá 5% giá trị hợp đồng)”.
Trong thực tiễn, các bên thường xuyên tranh chấp về việc điều khoản nêu trên là thỏa thuận phạt vi phạm hay thỏa thuận tiền lãi do chậm thanh toán. Có trường hợp Tòa án địa phương cho rằng thỏa thuận “phạt chậm thanh toán” mà mức phạt được ấn định theo một mức lãi suất nhất định có bản chất là tiền lãi do chậm thanh toán, với nhận định như sau: “Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên đã thỏa thuận phạt chậm thanh toán với mức lãi suất là 11,6%/năm được quy định tại Điều 1.2 Phụ lục A6 (thay thế mục c khoản 9.3 Điều 9 của Hợp đồng 100) và Điều 1.2 Phụ lục A4 (thay thế mục b khoản 9.3 Điều 9 của Hợp đồng 200). Mặc dù trong hợp đồng dùng từ phạt chậm thanh toán nhưng bản chất là tính lãi do chậm thanh toán”.
Tuy nhiên, Tòa án nhân dân Tối cao lại theo hướng thỏa thuận về việc bên vi phạm phải “chịu phạt” một khoản tiền ấn định theo mức lãi suất nhất định là thỏa thuận phạt vi phạm và vụ việc sau đây rất đáng lưu tâm. Theo một quyết định giám đốc thẩm, các bên trong hợp đồng có thỏa thuận hai khoản tiền bao gồm “lãi suất chậm thanh toán là 1.1%/tháng và phải chịu phạt thêm 5%/tháng trên số tiền còn nợ”. Tòa án đã lần lượt xem xét và đánh giá bản chất của hai khoản tiền nêu trên. Cụ thể, “Như vậy, Công ty Đại Nam và Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương chỉ thống nhất được với nhau về mức lãi suất chậm thanh toán là 1,1%/tháng; thoả thuận của các đương sự về trách nhiệm thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán là không trái pháp luật”. Đoạn nhận định nêu trên khá rõ ràng về việc Tòa án xác định khoản tiền “1.1%/tháng” là thỏa thuận về tiền lãi do chậm thanh toán.
Ngay tiếp theo, Tòa án cũng nhận định rằng: “Riêng về việc phạt vi phạm hợp đồng, các đương sự có thoả thuận và thoả thuận này là không trái pháp luật; nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau về mức phạt sau mỗi làn đối chiếu công nợ. Hơn nữa, mức phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà các đương sự đưa ra (5%/tháng, 10%/tháng hay 15%/tháng) đều không đúng pháp luật. Theo quy định tại Điều 301 Luật thương mại năm 2005 thì mức phạt (hoặc tổng mức phạt đối chiếu với nhiều vi phạm) do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Như vậy, theo Tòa án, khoản tiền “5%/tháng” là thỏa thuận “về việc phạt vi phạm hợp đồng” và Tòa án cũng nhấn mạnh rằng “thoả thuận này là không trái pháp luật”. Ngoài ra, Tòa án còn áp dụng quy định tại Điều 301 LTM năm 2005 đối với khoản tiền “5%/tháng”, điều này chứng tỏ Tòa án đã xác định khoản tiền nêu trên có bản chất là phạt vi phạm hợp đồng.
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao (trong vụ việc thứ 2) phù hợp với nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên (khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015) và nên phát triển thành án lệ. Vì khái niệm được sử dụng trong hợp đồng là “chịu phạt”, cho thấy ý chí của các bên về việc áp dụng biện pháp phạt vi phạm, chứ không phải là tiền lãi do chậm thanh toán. Còn mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phương thức để ấn định mức phạt vi phạm. Không nên ngộ nhận rằng cứ có thỏa thuận về mức lãi suất thì đấy là thỏa thuận tiền lãi do chậm thanh toán.
Xác định giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm
Theo các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, mức phạt vi phạm thường được ấn định căn cứ trên giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, chứ không phải tính trên toàn bộ giá trị hợp đồng. Cụ thể, theo quy định tại Điều 301 LTM năm 2005, mức phạt vi phạm tối đa “không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Tương tự, khoản 3 Điều 86 LXD năm 2025 cũng có quy định mức phạt hợp đồng “không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm” đối với công trình xây dựng tại dự án đầu tư công, dự án PPP. Quy định về căn cứ ấn định mức phạt vi phạm trong LTM năm 2005 và LXD năm 2025 thể hiện rõ nét nguyên tắc “vi phạm đến đâu phạt đến đó”.
Tuy nhiên, LTM năm 2005, LXD năm 2025 và các văn bản quy định chi tiết không đưa ra giải thích hoặc hướng dẫn giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm được xác định như thế nào.
Trong thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn các Tòa án địa phương “xem xét, đánh giá làm rõ tính đến thời điểm ngày 31/8/2009 (ngày Chủ đầu tư và Quản lý dự án yêu cầu Công ty A phải hoàn thành công trình), Công ty A đã thực hiện được bao nhiêu phần trăm khối lượng, giá trị công việc, Công ty A còn phải thực hiện là bao nhiêu để có cơ sở xác định giá trị hợp đồng bị vi phạm”. Ở đây, giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm được xác định trên cơ sở giá trị phần khối lượng công việc mà bên vi phạm còn phải thực hiện theo cam kết. Trên thực tế, đã có Tòa án địa phương đã vận dụng hướng dẫn nêu trên của Tòa án nhân dân tối cao để xác định giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm như sau: “Tổng giá trị của Phụ lục hợp đồng số 01 là 171.025.017.406 đồng (Chưa bao gồm thuế VAT), bị đơn đã thực hiện được 36.036.561.604 đồng. Như vậy, giá trị còn lại chưa thực hiện của phụ lục hợp đồng này là 134.988.455.802 đồng, được xác định là giá trị nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”.
Mặt khác, cũng có trường hợp Trọng tài cho rằng giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm đúng bằng giá trị hợp đồng trên cơ sở nhận định sau đây: “Về giá trị phần hợp đồng bị vi phạm, xét thấy đây là công trình xây dựng trọn gói, đòi hỏi sự thống nhất trọn vẹn, hoàn thiện, bàn giao toàn bộ thì mới có thể đưa vào sử dụng. Khi công trình thiếu sót hoặc chưa xây dựng hoàn thành, Nguyên đơn cũng không thể sử dụng công trình cho mục đích của mình. Do đó, không thể tách ra thành từng phần riêng biệt để xem xét về phần nghĩa vụ bị vi phạm… Bị đơn phải chịu trách nhiệm về toàn bộ công trình chưa hoàn thành đối với Nguyên đơn. Nên yêu cầu của Nguyên đơn phạt vi phạm trên tổng giá trị công trình là có căn cứ chấp nhận”.
Kết hợp đường lối giải quyết của Tòa án và Trọng tài trong các vụ việc được nghiên cứu, chúng ta có thể rút ra kết luận rằng:
– Trường hợp các nghĩa vụ hợp đồng là riêng lẻ và không liên quan với nhau, thì giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm là giá trị của các nghĩa vụ mà bên vi phạm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo quy định hợp đồng;
– Trường hợp các nghĩa vụ hợp đồng là một tổng thể thống nhất, không thể chia tách được hoặc phần nghĩa vụ hợp đồng không thực hiện đúng đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng, thì giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm được xác định là giá trị toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng.
Hướng giải quyết nêu trên rất thuyết phục và Tòa án nhân dân tối cao nên phát triển thành nghị quyết để hướng dẫn áp dụng thống nhất trong thực tiễn xét xử.
Trong một số trường hợp, các bên có thỏa thuận về việc bên có nghĩa vụ thanh toán được giữ lại một khoản tiền để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo hành của bên còn lại và khoản tiền này sẽ được thanh toán sau khi hết thời hạn bảo hành. Chẳng hạn, trong một hợp đồng mua bán hàng hóa, bên mua được giữ lại 3% giá trị thanh toán để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo hành của bên bán và “3% còn lại thanh toán nốt khi hết thời hạn bảo hành”. Trên thực tế, các bên xảy ra đã tranh chấp về việc khoản tiền giữ lại để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo hành nêu trên có thuộc “giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”, để từ đó ấn định mức phạt vi phạm trên cả khoản tiền này hay không? Theo Tòa án, “kể từ thời điểm xét xử phúc thẩm (ngày 02/5/2008) bị đơn mới có nghĩa vụ nghiệm thu, tiếp nhận 12 máy siêu âm chuẩn đoán đa năng đen trắng xách tay Famio5-SSA-510A và 12 máy nghe tim thai Doppler FD-390, và như vậy thì thời hạn bảo hành tối thiểu là 12 tháng kể từ ngày nghiệm thu, giao nhận máy. Do đó, số tiền bảo hành mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 20.520.000 đồng và khoản tiền phạt bị đơn phải chịu được tính trên 2.861.480.000 đồng (được tính từ: 4.116.000.000 đồng – 1.234.000.000 đồng – 20.520.000 đồng) với mức phạt 8% và bằng 228.918.400 đồng”.
Như vậy, theo Tòa án, mức phạt vi phạm hợp đồng không được ấn định trên khoản tiền giữ lại để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo hành. Nói cách khác, Tòa án không xác định khoản tiền này thuộc “giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Hướng giải quyết nêu trên của Tòa án rất thuyết phục và chưa được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật, nên cần phát triển thành án lệ. Việc bên có nghĩa vụ thanh toán giữ lại (chưa thanh toán) một khoản tiền để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo hành được thực hiện theo quy định hợp đồng, khác với hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, khoản tiền giữ lại nêu trên không phải là “phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm” để từ đó làm căn cứ tính mức phạt vi phạm.
Hiệu lực của mức phạt vi phạm vượt quá mức tối đa
Về nguyên tắc, mức phạt vi phạm hợp đồng thực hiện theo sự thỏa thuận của các bên, tuy nhiên, thỏa thuận này không được vượt quá mức tối đa mà các văn bản quy phạm pháp luật cho phép. Cụ thể, Điều 301 LTM năm 2005 quy định “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm…” và theo khoản 3 Điều 86 LXD năm 2025, “đối với công trình xây dựng tại dự án đầu tư công, dự án PPP, mức phạt hợp đồng xây dựng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng xây dựng bị vi phạm”. Tuy nhiên, trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm vượt quá mức tối đa thì thỏa thuận phạt vi phạm này có hiệu lực hay không? Chúng ta không tìm được câu trả lời rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên.
Đối với hợp đồng vay tài sản, khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 quy định trường hợp các bên thỏa thuận mức lãi suất vay vượt quá giới hạn 20%/năm thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Tuy nhiên, quy định tương tự không tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến mức phạt vi phạm hợp đồng. Do các văn bản quy phạm pháp luật không đưa ra cách xử lý rõ ràng trong trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt lớn hơn khung tối đa, nên trong khoa học pháp lý đang tồn tại 02 (hai) quan điểm liên quan đến vấn đề này:
– Trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm lớn hơn mức giới hạn tối đa thì phần vượt quá không có hiệu lực. Điều này có nghĩa, mức phạt vi phạm sẽ được ấn định bằng với mức tối đa; hoặc
– Trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm lớn hơn mức giới hạn tối đa thì điều khoản phạt vi phạm này bị xác định là vô hiệu và không được áp dụng.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp cũng không có sự thống nhất về hiệu lực của thỏa thuận phạt vi phạm có mức phạt vượt quá khung tối đa. Cụ thể, có Tòa án vô hiệu toàn bộ thỏa thuận phạt vi phạm và không chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm của một bên đương sự, với nhận định như sau: “Đối với yêu cầu phạt hợp đồng 1.124.131.200 đồng (20% trên giá trị hợp đồng) theo hợp đồng ký kết là không đúng theo quy định tại Điều 300 Luật thương mại 2005 thì mức phạt vi phạm hợp đồng không quá 8% giá trị hợp đồng”.
Tuy nhiên, có trường hợp Tòa án theo hướng vô hiệu phần mức phạt vi phạm vượt quá khung tối đa và chấp nhận mức phạt đúng bằng khung tối đa. Chẳng hạn, theo một bản án “các bên thỏa thuận mức phạt tối đa không quá 10% giá trị hợp đồng, là không phù hợp với bản chất của chế tài phạt vi phạm trong giao dịch thương mại theo quy định của pháp luật, nên không được chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xác định mức phạt vi phạm tại Điều 10.1 Hợp đồng xây dựng 001, khoản 2 Điều 4 Phụ lục hợp đồng A01 và mục 3 Phụ lục hợp đồng A02 không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005”.
Như vậy, hiệu lực của thỏa thuận phạt vi phạm có mức phạt lớn hơn khung tối đa là vấn đề chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và cũng không có sự thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Ở đây, Tòa án trong vụ việc thứ hai theo hướng chỉ vô hiệu một phần mức phạt vi phạm vượt quá mức tối đa, thay vì vô hiệu toàn bộ điều khoản phạt vi phạm và hướng giải quyết như vậy là thuyết phục, nên phát triển thành án lệ.
Bởi lẽ, tôn trọng sự thỏa thuận của các bên là một trong những nguyên tắc cơ bản được nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định, đơn cử như khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 và khoản 1 Điều 11 LTM năm 2005. Vậy nên, “nếu chỉ vì các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm cao hơn mức tối đa được quy định tại Điều 301 LTM 2005 mà kết luận điều khoản này vô hiệu là bỏ qua sự thống nhất ý chí của các bên trong việc lựa chọn biện pháp phạt vi phạm”.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 130 BLDS năm 2015, “giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch”. Trường hợp này, việc vô hiệu một phần mức phạt vi phạm vượt quá khung tối đa không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản phạt vi phạm nói riêng, cũng như hiệu lực của các phần còn lại trong hợp đồng nói chung. Vì vậy, chúng ta không nên vô hiệu toàn bộ thỏa thuận phạt vi phạm, nhằm tạo điều kiện cho các bên áp dụng biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng (phạt vi phạm) mà mình đã thỏa thuận.
Thay đổi mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận
BLDS năm 2015 không khống chế mức phạt vi phạm tối đa, nên các bên có thể tự do thỏa thuận về vấn đề này. Trong khi đó, LTM năm 2005 và LXD năm 2025 có đưa ra giới hạn mức phạt vi phạm tối đa, nên mặc dù các bên được quyền tự do thỏa thuận, thì mức phạt vẫn phải trong phạm vi mà các luật này đã quy định. Mục 3 cho thấy, trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm lớn hơn mức tối đa, thì Tòa án có thể điều chỉnh giảm mức phạt về bằng mức tối đa theo quy định. Câu hỏi đặt ra là nếu mức phạt vi phạm được thỏa thuận đã phù hợp với quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, thì Tòa án có thẩm quyền thay đổi mức mức phạt này hay không?
Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành không có quy định cho phép cơ quan giải quyết tranh chấp được quyền thay đổi mức phạt vi phạm mà các bên đã thỏa thuận. Đây là “lỗ hổng pháp lý” mà bên mạnh thế hơn về kinh tế có thể lạm dụng để đưa vào hợp đồng điều khoản phạt vi phạm có tính chất “bóc lột” bên yếu thế hơn về kinh tế. Trường hợp này, Tòa án có thể buộc phải chấp nhận những mức phạt vi phạm “quá bất hợp lý và rõ ràng không công bằng”, vì chưa có khung pháp lý để can thiệp.
Trên thực tế, không hiếm khi xảy ra tình huống một bên không thực hiện đúng hợp đồng do một phần lỗi của bên kia. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu bên bị vi phạm có một phần lỗi thì “bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình” (Điều 363 BLDS năm 2015). Tuy nhiên, BLDS năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành không có quy định tương tự liên quan đến việc giảm một phần mức phạt vi phạm trong trường hợp bên bị vi phạm có một phần lỗi.
Mặc dù chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng Tòa án nhân dân tối cao đã mở ra khả năng cho phép ấn định mức phạt vi phạm tương ứng với mức độ lỗi của mỗi bên, theo đó “có căn cứ xác định cả hai bên Công ty T và Công ty Q đều có lỗi trong việc giao cây và nhận cây. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định lỗi hoàn toàn của Công ty T và áp dụng mức phạt cao nhất theo Điều 301 Luật Thương mại (8%) đối với Công ty T là không phù hợp; cần phải xác định lại mức độ lỗi của các bên để quyết định mức phạt cho đúng”.
Tương tự, Tòa án địa phương cũng đã theo hướng nêu trên trong vụ việc sau đây: Sau khi khẳng định “nguyên đơn đã giao chậm hàng cho bị đơn 26 tháng. Tuy nhiên, tại phiên tòa các đương sự đã đặt các câu hỏi cho nhau và tranh luận, làm rõ được là bị đơn cũng có một phần lỗi trong việc nguyên đơn chậm giao hàng như: chậm thanh toán tiền lần thứ hai và thanh toán không đủ theo hợp đồng cho nguyên đơn”, Tòa án kết luận rằng “có thể nói bị đơn cũng có lỗi trong việc giao hàng chậm của nguyên đơn, trong đó nguyên đơn có lỗi 70% và bị đơn 30%. Tương ứng là bị đơn phải chịu phạt với số tiền là 108.000.000 đồng và nguyên đơn phải chịu 252.000.000 đồng” .
Hướng xử lý mà theo đó bên vi phạm được giảm một phần mức phạt, tương ứng với mức độ lỗi của bên bị vi phạm rất thuyết phục, vì công bằng với bên vi phạm và khuyến khích bên bị vi phạm hành xử một cách thiện chí.
Bên cạnh đó, cũng có thể xảy ra trường hợp mức phạt vi phạm mà các bên đã thỏa thuận quá lớn so với khả năng kinh tế của bên vi phạm. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015 quy định người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu có lỗi vô ý và “thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình”. Trong khi đó, quy định về việc giảm một phần mức phạt vi phạm đối với trường hợp tương tự lại không tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Mặc dù vậy, thực tiễn xét xử cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng mức phạt vi phạm được xem xét giảm một phần nếu có căn cứ xác định bên vi phạm đang gặp khó khăn và vụ việc sau đây rất đáng lưu tâm. Cụ thể, Tòa án nhân dân tối cao đã nhận định: “theo Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương trình bày thì do bị cháy kho hàng tại Campuchia nên Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương gặp khó khăn trong việc thanh toán tiền cho Công ty Đại Nam. Vì vậy, khi xét xử lại vụ án này, Tòa án các cấp cần yêu cầu đương sự cung cấp lại tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra, nếu có đẩy đủ căn cứ thì có thể xem xét giảm một phần mức phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng cho Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương”.
Như vậy, các yếu tố mà Tòa án nhân dân tối cao căn cứ vào đó, để xem xét giảm một phần mức phạt đều liên quan và tập trung vào hoàn cảnh, khả năng kinh tế của bên vi phạm, ví dụ như: “bị cháy kho hàng”, “gặp khó khăn trong việc thanh toán tiền” và “thiệt hại thực tế đã xảy ra”. Hướng giải quyết nêu trên thể hiện truyền thống nhân đạo của người Việt Nam.
Trước đây, có tác giả băn khoăn rằng: Nếu cho phép các bên ấn định mức phạt vi phạm theo một mức lãi suất nhất định, thì chúng ta không thể giảm mức phạt mà các bên đã thỏa thuận đối với hợp đồng dân sự (vì các bên được tự do ấn định mức phạt vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 418 BLDS năm 2015) và “điều này hoàn toàn không thuyết phục, có thể dẫn tới việc hợp thức hóa thực trạng “người bóc lột người” thông qua các thỏa thuận”. Vì vậy, theo tác giả này, thỏa thuận ấn định mức phạt vi phạm bằng lãi suất chỉ nên áp dụng cho hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM năm 2005 (để có thể khống chế mức phạt vi phạm không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm). Đối với hợp đồng dân sự, không nên xác định thỏa thuận về việc bên chậm thanh toán phải chịu thêm một khoản tiền ấn định theo một mức lãi suất nhất định là thỏa thuận phạt vi phạm. Ở đây, tinh thần của tác giả là thỏa thuận nêu trên nên được xác định là thỏa thuận về tiền lãi do chậm thanh toán, để có thể giới hạn mức lãi suất (theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 BLDS năm 2015) và trên cơ sở đó giới hạn được khoản tiền phải thanh toán thêm.
Tuy nhiên, đề xuất nêu trên dẫn đến bất cập: Cùng một dạng thỏa thuận (thanh toán thêm một khoản tiền ấn định bằng lãi suất), nhưng lại có bản chất khác nhau, tùy thuộc vào thỏa này này được áp dụng trong hợp đồng thương mại (phạt vi phạm) hay hợp đồng dân sự (tiền lãi do chậm thanh toán).
Trường hợp các bên có thỏa thuận ấn định mức phạt vi phạm theo một mức lãi nhất định, thì chúng ta nên thống nhất xác định thỏa thuận này là phạt vi phạm, như hướng của Tòa án nhân dân tối cao trong Quyết định giám đốc thẩm số 03/2009/KDTM-GĐT ngày 09/4/2009, bởi vì các lý do đã trình bày tại Mục 1 của bài viết. Nếu mức lãi suất được các bên thỏa thuận quá cao, dẫn đến mức phạt vi phạm quá bất hợp lý thì chúng ta có thể theo hướng Tòa án được quyền can thiệp để giảm mức phạt vi phạm trong trường hợp này.
Liên quan đến mức phạt vi phạm hợp đồng, tác giả kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao tổng kết kinh nghiệm xét xử trong các vụ án được nghiên cứu nêu trên và phát triển thành nghị quyết hướng dẫn với nội dung cơ quan giải quyết tranh chấp có quyền điều chỉnh phạt vi phạm mà các bên đã thỏa thuận trong các trường hợp sau đây:
– Bên bị vi phạm có lỗi dẫn đến bên kia không thực hiện đúng hợp đồng;
– Mức phạt vi phạm quá lớn so với khả năng kinh tế của bên vi phạm;
– Mức lãi suất áp dụng để ấn định mức phạt vi phạm theo thỏa thuận của các bên vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của BLDS năm 2015. Trường hợp mức lãi suất theo thỏa thuận vượt quá quy định nêu trên thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Kết luận
Phạt vi phạm hợp đồng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật, như BLDS năm 2015, LTM năm 2005 và LXD năm 2025. Mặc dù các văn bản nêu trên đã quy định nhiều nội dung liên quan đến mức phạt vi phạm, tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy có những vấn đề pháp lý phát sinh nhưng chưa được điều chỉnh cụ thể. Vì vậy, tác giả kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao tổng kết kinh nghiệm xét xử và phát triển những yếu tố hợp lý thành án lệ hoặc nghị quyết, để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về mức phạt vi phạm hợp đồng.
Theo ThS. Luật sư VÕ QUỐC AN – Tạp chí Điện tử Luật sư Việt Nam
Công ty Luật TNHH Luật sư 24H HCMC.






Để lại một bình luận