Trong bối cảnh đó, pháp luật Việt Nam đã từng bước hình thành và hoàn thiện các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng điện gió ngoài khơi như một hướng đi chiến lược nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Các quy định này tập trung vào việc ưu đãi đầu tư, hỗ trợ về giá điện, tạo điều kiện tiếp cận hạ tầng và không gian biển, đồng thời thúc đẩy thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân và quốc tế. Mặc dù Việt Nam có tiềm năng lớn về tài nguyên năng lượng gió ngoài khơi, song hiệu quả khai thác và sử dụng vẫn còn hạn chế do những bất cập trong khung pháp lý, thực tiễn áp dụng và mức độ đồng bộ của chính sách hỗ trợ.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
1. Đặt vấn đề
Sự cạn kiệt dần các nguồn năng lượng hóa thạch cùng những tác động tiêu cực đến môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các quốc gia trong việc chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng xanh, sạch, bền vững. Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km và tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi khoảng 600.000 MW theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Việt Nam xác định điện gió ngoài khơi là nguồn năng lượng chiến lược, vừa bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, vừa góp phần thực hiện cam kết trung hòa carbon vào năm 2050 mà Việt Nam đã tuyên bố tại Hội nghị COP26.
Trên cơ sở định hướng tại Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII tại Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025, xác định mục tiêu công suất điện gió ngoài khơi đạt 6.000-17.032 MW giai đoạn 2030 – 2035 và 113.503-139.097 MW đến năm 2050, tương ứng 14,7-16,6% tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống. Đây là mục tiêu quy mô lớn, đòi hỏi khung pháp lý đủ mạnh và đồng bộ để thu hút đầu tư trong lĩnh vực có công nghệ phức tạp, suất đầu tư cao.
Luật Điện lực số 61/2024/QH15 (thông qua ngày 30/11/2024, hiệu lực từ 01/02/2025) lần đầu tiên dành riêng 4 điều (Điều 26-29) quy định về phát triển điện gió ngoài khơi, gồm nguyên tắc chung, khảo sát, chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư. Nghị định số 58/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới đã cụ thể hóa các ưu đãi: miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển; miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong thời gian xây dựng; và bảo đảm sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn. Nhằm tháo gỡ vướng mắc về trình tự khảo sát và điều kiện năng lực nhà đầu tư, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 253/2025/QH15 về quy chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030, giao Chính phủ quy định chi tiết. Trên cơ sở đó, Nghị định số 272/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Điều 4, 10, 11, 12 của Nghị quyết số 253/2025/QH15 đã siết chặt tiêu chuẩn về vốn, năng lực kỹ thuật và cam kết tài chính của đơn vị khảo sát, nhà đầu tư dự án.
Tuy nhiên, hệ thống quy định về ưu đãi, hỗ trợ phát triển điện gió ngoài khơi vẫn phân tán ở nhiều văn bản dưới luật, thường xuyên sửa đổi trong thời gian ngắn, thiếu thống nhất giữa pháp luật điện lực, pháp luật tài nguyên – môi trường biển, hải đảo và pháp luật đất đai. Quy chế khung giá điện gió ngoài khơi, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư và quy chế chia sẻ rủi ro trong giai đoạn khảo sát cũng chưa được quy định đầy đủ, gây khó khăn cho việc thu hút đầu tư và triển khai các dự án thí điểm.
2. Thực trạng các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng điện gió ngoài khơi và những vấn đề pháp lý đặt ra
Kể từ khi Luật Điện lực số 61/2024/QH15 có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/02/2025, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động phát triển điện gió ngoài khơi tại Việt Nam lần đầu tiên được xác lập tương đối đầy đủ và độc lập, thay vì chỉ lồng ghép trong quy định chung về năng lượng tái tạo như giai đoạn trước. Tại các Điều 26, 27 và 28, Luật quy định rõ khái niệm dự án điện gió ngoài khơi (dự án có toàn bộ tua bin gió được xây dựng ngoài phạm vi 6 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm), thẩm quyền giao khu vực biển để khảo sát, trình tự chấp thuận chủ trương đầu tư và các quy chế, chính sách ưu đãi áp dụng riêng cho loại hình dự án này. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới, trong đó Điều 25 quy định cụ thể chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho dự án điện gió ngoài khơi. Ngày 11/12/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 253/2025/QH15 về quy chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030, bổ sung quy định mang tính đột phá về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư nhằm tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng Luật Điện lực năm 2024. Gần đây nhất, Nghị định số 272/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm hướng dẫn áp dụng các Điều 4, 10, 11 và 12 của Nghị quyết số 253/2025/QH15, khắc phục một phần khoảng trống pháp lý về điều kiện của đơn vị khảo sát và của doanh nghiệp đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư. Mặc dù hệ thống văn bản nêu trên đã hình thành hành lang pháp lý tương đối đồng bộ, quá trình triển khai thực tiễn vẫn cho thấy còn tồn tại những vướng mắc pháp lý sau đây:
Một là, về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư.
Trước khi Nghị quyết số 253/2025/QH15 được ban hành, việc chấp thuận chủ trương đầu tư dự án điện gió ngoài khơi về nguyên tắc phải trải qua trình tự chung theo pháp luật về đầu tư, bao gồm cả yêu cầu đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư trong nhiều trường hợp, bị đánh giá là kéo dài thời gian chuẩn bị dự án. Trong khi Quy hoạch điện VIII điều chỉnh xác định mục tiêu đạt khoảng 6.000 MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030, đến cuối năm 2025 vẫn chưa có dự án nào được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư. Để giải quyết thực trạng này, Nghị quyết số 253/2025/QH15 trao thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư, không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu, đối với các dự án triển khai trong giai đoạn 2025 – 2030; đối với giai đoạn 2031 – 2035, thẩm quyền được phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đồng thời, Nghị quyết đặt ra điều kiện tài chính cụ thể đối với doanh nghiệp được đề xuất giao khảo sát: có ngành nghề kinh doanh điện, vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư dự án. Nghị định số 272/2026/NĐ-CP sau đó cụ thể hóa các điều kiện này, quy định chi tiết hồ sơ, trình tự tiếp nhận và giải quyết đề nghị khảo sát và đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư. Việc trao thẩm quyền tập trung như trên, một mặt rút ngắn đáng kể thời gian thủ tục hành chính và tạo quy chế lựa chọn nhà đầu tư có năng lực thực sự, mặt khác cũng đặt ra vấn đề cần tiếp tục theo dõi: việc loại trừ quy chế đấu thầu cạnh tranh trong giai đoạn 2025 – 2030 có thể làm giảm tính minh bạch trong lựa chọn nhà đầu tư và tiềm ẩn nguy cơ hạn chế cạnh tranh nếu thiếu quy chế giám sát, hậu kiểm tương xứng.
Hai là, về chính sách ưu đãi tài chính, đất đai và mặt biển.
Theo Điều 25 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP, dự án điện gió ngoài khơi được hưởng quy chế ưu đãi khi đáp ứng đồng thời hai điều kiện: được quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư trước ngày 01/01/2031; và đối với dự án bán điện lên hệ thống điện quốc gia, có công suất nằm trong tổng công suất 6.000 MW đã được phê duyệt tại quy hoạch phát triển điện lực. Nội dung ưu đãi gồm: miễn tiền sử dụng khu vực biển trong thời gian xây dựng cơ bản nhưng không quá 3 năm kể từ ngày khởi công; giảm tiền sử dụng khu vực biển sau thời gian được miễn; miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong thời gian xây dựng; và cam kết sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn đối với dự án bán điện lên hệ thống điện quốc gia. Cần lưu ý, các nguồn thông tin pháp lý hiện có chưa thống nhất về thời hạn giảm 50% tiền sử dụng khu vực biển sau thời gian miễn: có nguồn dẫn chiếu Điều 25 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP nêu 12 năm, có nguồn nêu 9 năm. Do đây là điểm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính dự án, nghiên cứu sinh cần đối chiếu trực tiếp văn bản gốc (hoặc bản hợp nhất, nếu có) trước khi trích dẫn chính thức, thay vì dùng số liệu từ nguồn thứ cấp. Về sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn, theo định hướng tại Nghị quyết số 253/2025/QH15, mức cam kết không thấp hơn 90% sản lượng điện trung bình nhiều năm trong suốt thời gian trả nợ vốn vay – yếu tố then chốt bảo đảm khả năng thu xếp vốn quốc tế. Tuy nhiên, việc giới hạn ưu đãi trong công suất 6.000 MW theo quy hoạch và mốc thời hạn 01/01/2031 tạo áp lực tiến độ cho cả cơ quan quản lý nhà nước lẫn nhà đầu tư: nếu quá trình thẩm định, giao khu vực biển và chấp thuận chủ trương đầu tư không được đẩy nhanh tương xứng, nhiều dự án tiềm năng có nguy cơ không kịp đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi.
Ba là, về quy chế xác định giá điện.
Khác với điện mặt trời và điện gió trên bờ, gần bờ vốn đã có khung giá phát điện được xây dựng và điều chỉnh qua nhiều năm, quy chế giá điện dành riêng cho điện gió ngoài khơi mới được xây dựng lần đầu theo Thông tư số 09/2025/TT-BCT quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục, phương pháp xác định, phê duyệt khung giá phát điện. Ngày 26/6/2025, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1824/QĐ-BCT phê duyệt khung giá phát điện năm 2025 áp dụng cho điện gió ngoài khơi theo 3 khu vực biển: Bắc Bộ, mức tối đa 3.975,1 đồng/kWh; Nam Trung Bộ, mức tối đa 3.078,9 đồng/kWh; Nam Bộ, mức tối đa 3.868,5 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng). Đây là căn cứ để Tập đoàn Điện lực Việt Nam và đơn vị phát điện ký kết hợp đồng mua bán điện theo quy định pháp luật về phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện. Điểm đáng lưu ý là khung giá nêu trên được xây dựng trên cơ sở tính toán sơ bộ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Viện Năng lượng, tham chiếu số liệu suất đầu tư từ tài liệu cẩm nang công nghệ hợp tác Việt Nam – Đan Mạch, trong bối cảnh chưa có báo cáo nghiên cứu khả thi thực tế nào của dự án trong nước để đối chiếu. Điều này cho thấy khung pháp lý về giá điện gió ngoài khơi vẫn mang tính tạm thời, dựa trên dữ liệu tham chiếu nước ngoài thay vì dữ liệu thực chứng trong nước, tiềm ẩn rủi ro chênh lệch giữa khung giá được phê duyệt với chi phí đầu tư thực tế, ảnh hưởng đến tính khả thi tài chính và khả năng thu hút đầu tư dài hạn.
Bốn là, về khoảng cách giữa khung pháp lý và tiến độ triển khai thực tế.
Mặc dù hệ thống pháp luật về khuyến khích, hỗ trợ phát triển điện gió ngoài khơi được xây dựng tương đối đồng bộ trong thời gian ngắn – gồm Luật Điện lực năm 2024, Nghị định số 58/2025/NĐ-CP, Nghị quyết số 253/2025/QH15 và Nghị định số 272/2026/NĐ-CP – tiến độ chấp thuận chủ trương đầu tư cho các dự án cụ thể trên thực tế vẫn chậm so với mục tiêu quy hoạch. Việc Nghị định số 272/2026/NĐ-CP chỉ được ban hành sau khi Nghị quyết số 253/2025/QH15 có hiệu lực khoảng nửa năm cho thấy khoảng trống thời gian nhất định giữa việc Quốc hội xác lập quy chế, chính sách và việc Chính phủ hoàn thiện văn bản hướng dẫn để tổ chức áp dụng; trong giai đoạn chuyển tiếp, cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương và nhà đầu tư gặp khó khăn nhất định trong áp dụng thống nhất quy định. Bên cạnh đó, quy chế phối hợp giữa cơ quan tiếp nhận hồ sơ chấp thuận chủ trương đầu tư và cơ quan tiếp nhận hồ sơ khảo sát dự án, giữa Bộ Công Thương với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc giao khu vực biển, vẫn đang trong quá trình cụ thể hóa và cần thời gian kiểm nghiệm hiệu quả trên thực tiễn.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về điều kiện áp dụng và thời hạn được hưởng ưu đãi đối với dự án điện gió ngoài khơi.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật Điện lực số 61/2024/QH15 và được cụ thể hóa tại Điều 25 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới, dự án điện gió ngoài khơi chỉ được hưởng quy chế ưu đãi khi đồng thời đáp ứng hai điều kiện: một là, được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư trước ngày 01 tháng 01 năm 2031; hai là, đối với dự án cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia, phải có công suất nằm trong tổng công suất 6.000 MW đã được phê duyệt tại quy hoạch phát triển điện lực. Cách tiếp cận này, tuy tạo động lực để các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án trong giai đoạn đầu, nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ tạo ra sự đứt gãy về chính sách ưu đãi sau mốc thời gian nêu trên, trong khi theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất điện gió ngoài khơi của Việt Nam được định hướng đạt 17.500 MW vào năm 2035 và từ 113.000 MW đến 139.000 MW vào năm 2050. Do đó, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 58/2025/NĐ-CP theo hướng quy định lộ trình ưu đãi theo từng giai đoạn phát triển gắn với công suất được phê duyệt bổ sung sau năm 2030, thay vì áp dụng một mốc thời hạn cứng nhắc duy nhất, nhằm bảo đảm tính liên tục, ổn định và có thể dự báo được của chính sách khuyến khích đầu tư.
Thứ hai, hoàn thiện quy chế xác định giá điện đối với dự án điện gió ngoài khơi theo hướng bảo đảm tính ổn định và khả năng thu hồi vốn dài hạn cho nhà đầu tư.
Ngày 01 tháng 7 năm 2025, Bộ Công Thương đã phê duyệt khung giá phát điện năm 2025 áp dụng cho loại hình nhà máy điện gió ngoài khơi, theo đó mức giá tối đa tại khu vực Bắc Bộ là 3.975,1 đồng/kWh, tại khu vực Nam Trung Bộ là 3.078,9 đồng/kWh và tại khu vực Nam Bộ là 3.868,5 đồng/kWh, làm cơ sở để Tập đoàn Điện lực Việt Nam và đơn vị phát điện đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán điện theo phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện do Bộ Công Thương ban hành. Tuy nhiên, quy chế khung giá phát điện hiện hành mới chỉ giới hạn trong phạm vi một năm tài chính, chưa hình thành được quy chế giá điện ổn định trong suốt vòng đời dự án – vốn có đặc thù là suất đầu tư ban đầu rất lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài, đặc biệt trong bối cảnh dự án điện gió ngoài khơi tại Việt Nam đòi hỏi suất đầu tư ước tính khoảng 93 tỷ đồng cho mỗi MW công suất lắp đặt theo tính toán của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Vì vậy, cần nghiên cứu xây dựng quy chế hợp đồng mua bán điện mẫu dài hạn dành riêng cho điện gió ngoài khơi, trong đó quy định rõ nguyên tắc điều chỉnh giá theo biến động của các yếu tố đầu vào cơ bản, nhằm giảm thiểu rủi ro chính sách và tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục giao khu vực biển để khảo sát và lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án điện gió ngoài khơi theo hướng công khai, minh bạch, tránh phát sinh quy chế giữ chỗ.
Điều 26, Điều 27 và Điều 28 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP đã quy định cụ thể về điều kiện, năng lực của đơn vị khảo sát; nội dung khảo sát năng lượng gió, khảo sát địa hình, địa chất đáy biển và hải dương học; và điều kiện đối với nhà đầu tư thực hiện dự án. Trên cơ sở đó, Chính phủ đang tiếp tục hoàn thiện dự thảo văn bản quy định chi tiết một số nội dung được Quốc hội giao tại Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 về các quy chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030, trong đó có nội dung về phát triển điện gió ngoài khơi. Quá trình xây dựng văn bản này cần quán triệt yêu cầu bảo đảm công khai, minh bạch, có tiêu chí rõ ràng trong việc giao khu vực biển để khảo sát, tránh tạo ra quy chế “giữ chỗ” hoặc hình thành thế độc quyền đối với cơ hội đầu tư, đồng thời cần làm rõ nguyên tắc: việc được giao khảo sát không đồng nghĩa với việc đương nhiên được chấp thuận chủ trương đầu tư dự án. Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể trách nhiệm hoàn trả chi phí khảo sát và chi phí lập hồ sơ chấp thuận chủ trương đầu tư giữa các bên liên quan để bảo đảm nguyên tắc công bằng, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp nhà nước thực hiện khảo sát ban đầu và nhà đầu tư trúng thầu sau này.
Thứ tư, hoàn thiện chính sách ưu đãi về tài chính đất đai, khu vực biển gắn với yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa nhằm phát triển đồng bộ chuỗi cung ứng trong nước.
Theo khoản 2 Điều 25 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP, dự án điện gió ngoài khơi đáp ứng điều kiện được hưởng các ưu đãi về miễn tiền sử dụng khu vực biển trong thời gian xây dựng cơ bản không quá 3 năm kể từ ngày khởi công, giảm 50% tiền sử dụng khu vực biển trong 12 năm tiếp theo, và miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản. Đây là bước tiến quan trọng so với khung pháp luật trước đây, khi Nghị định số 135/2024/NĐ-CP chưa quy định đầy đủ quy chế đặc thù cho loại hình năng lượng này. Tuy vậy, để chính sách ưu đãi phát huy hiệu quả thực chất, cần gắn kết chặt chẽ với yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa đối với thiết bị, dịch vụ tư vấn và dịch vụ phụ trợ đã được đề cập tại Điều 28 Nghị định số 58/2025/NĐ-CP, đồng thời cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn xác định cụ thể tỷ lệ nội địa hóa theo từng giai đoạn phát triển, làm cơ sở để doanh nghiệp trong nước từng bước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi, tránh tình trạng chính sách ưu đãi chỉ mang lại lợi ích cho nhà đầu tư mà không tạo được hiệu ứng lan tỏa đối với nền công nghiệp phụ trợ trong nước.
Thứ năm, xây dựng quy chế đặc thù, đủ mạnh để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia gắn với phát triển điện gió ngoài khơi theo tinh thần Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Việc xây dựng nghị định hướng dẫn áp dụng Nghị quyết số 253/2025/QH15 hiện nay cần được thực hiện trên nguyên tắc chỉ cụ thể hóa nội dung đã được Quốc hội giao, không tạo thêm quy chế ưu tiên vượt quá phạm vi được giao, nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất trong hệ thống pháp luật về năng lượng. Đồng thời, quy chế đặc thù cần được thiết kế đủ mạnh để thúc đẩy tiến độ triển khai các dự án điện gió ngoài khơi trọng điểm, phù hợp với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia theo định hướng tại Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó cần đặc biệt chú trọng đến việc phân định rõ thẩm quyền giữa Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình phê duyệt chủ trương đầu tư, quản lý khu vực biển và giám sát tiến độ dự án.
Thứ sáu, xây dựng lộ trình hoàn thiện khung pháp lý ổn định, đồng bộ dành riêng cho lĩnh vực điện gió ngoài khơi trong tổng thể pháp luật về năng lượng tái tạo.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đối với các quốc gia đã hình thành ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi phát triển, tính ổn định và khả năng dự báo của khung pháp luật là yếu tố quyết định niềm tin của nhà đầu tư, bởi đây là lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Tại Việt Nam, mặc dù Luật Điện lực số 61/2024/QH15 lần đầu tiên đã dành các quy định riêng về phát triển điện gió ngoài khơi, được Chính phủ triển khai áp dụng theo Quyết định số 1544/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2024 và cụ thể hóa tại Nghị định số 58/2025/NĐ-CP, nhưng các quy định này về cơ bản vẫn nằm rải rác trong hệ thống văn bản quy định chi tiết áp dụng Luật Điện lực, chưa hình thành một khung pháp lý mang tính hệ thống, ổn định lâu dài dành riêng cho lĩnh vực năng lượng tái tạo nói chung và điện gió ngoài khơi nói riêng. Do đó, trong dài hạn, cần nghiên cứu xây dựng lộ trình ban hành văn bản pháp luật chuyên ngành về năng lượng tái tạo, trong đó quy định thống nhất các nội dung liên quan trực tiếp đến điện gió ngoài khơi, bao gồm: quy hoạch không gian biển cho phát triển điện gió; quy chế đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư gắn với các tiêu chí về năng lực tài chính, kỹ thuật và cam kết nội địa hóa; quy chế giá điện và hợp đồng mua bán điện dài hạn; trách nhiệm của các tổ chức tài chính, ngân hàng trong việc thu xếp vốn cho dự án; và quy chế giám sát, đánh giá tác động môi trường biển trong suốt vòng đời dự án. Việc hình thành một khung pháp lý đồng bộ, ổn định như vậy sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển điện gió ngoài khơi đã được xác định tại Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đồng thời thể hiện cam kết nhất quán của Nhà nước trong việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực năng lượng sạch, phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia theo hướng bền vững.
4. Kết luận
Phát triển điện gió ngoài khơi là xu thế tất yếu trong chiến lược chuyển dịch năng lượng toàn cầu nhằm giảm phát thải khí nhà kính và bảo đảm an ninh năng lượng bền vững. Việt Nam sở hữu tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi lớn, ước tính khoảng 600.000 MW, song mức độ khai thác thực tế còn khiêm tốn so với tiềm năng sẵn có. Khung pháp lý điều chỉnh vấn đề trên đã có bước hoàn thiện đáng ghi nhận. Luật Điện lực số 61/2024/QH15 xây dựng cơ sở pháp lý chung; trên cơ sở đó, Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội quy định các quy chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030 được cụ thể hóa bằng Nghị định số 272/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 4 tháng 7 năm 2026 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2030, quy định các điều kiện về năng lực tài chính, tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu, trình tự chấp thuận chủ trương đầu tư và khảo sát dự án. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển thực tế và kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, pháp luật Việt Nam về khuyến khích, hỗ trợ điện gió ngoài khơi vẫn còn khoảng trống, nhất là về quy chế giá điện, chính sách ưu đãi tài chính – tín dụng, quy trình giao khu vực biển và tính đồng bộ với pháp luật đầu tư, đất đai, quy hoạch biển. Nếu không khẩn trương khắc phục, Việt Nam khó hiện thực hóa các mục tiêu công suất đã đề ra.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài, thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam, tác giả đã đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển điện gió ngoài khơi, bảo đảm môi trường pháp lý thuận lợi để huy động đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển chuỗi cung ứng nội địa, qua đó góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững quốc gia.
NGUỒN: ĐỖ NGỌC THANH – Tạp chí điện tử luật sư Việt Nam





Để lại một bình luận