Trên cơ sở phân tích quy định pháp luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu tại một số quốc gia trên thế giới nhằm làm rõ những nội dung pháp lý và kinh nghiệm có giá trị tham khảo, bài viết đối chiếu với quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam để nhận diện hạn chế, bất cập trong cơ chế thực hiện, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật từ đó nâng cao hiệu quả thực thi trong thời gian tới.
1. Đặt vấn đề
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh đang khiến Việt Nam đối mặt với thách thức ngày càng nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường, đặc biệt là rác thải nhựa và chất thải điện tử. Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu (Extended Producer Responsibility) là công cụ chính sách được nhiều quốc gia áp dụng để ứng phó với thực trạng này, phù hợp với xu thế phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn toàn cầu.
Chế định này lần đầu được ghi nhận toàn diện trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và tiếp tục được cụ thể hóa bởi Nghị định số 110/2026/NĐ-CP – văn bản kế thừa, sửa đổi Nghị định số 08/2022/NĐ-CP (đã được sửa đổi bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP và Nghị định số 48/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế còn gặp nhiều thách thức: Mức độ sẵn sàng hạn chế của doanh nghiệp, hạ tầng thu gom – tái chế thiếu đồng bộ, năng lực quản lý địa phương chưa đáp ứng và tình trạng chồng chéo trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
2. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu
Đức là quốc gia đầu tiên xây dựng hệ thống trách nhiệm của nhà sản xuất (EPR) mở rộng đối với bao bì, vào những năm 1990, và đã phát triển đáng kể kể từ đó. Khung pháp lý – Sắc lệnh về bao bì, cung cấp đã được sửa đổi nhiều lần được thay thế bằng Đạo luật về bao bì có hiệu lực vào tháng 1 năm 2019. Thay đổi quan trọng nhất đối với EPR ở Đức là sự chuyển đổi từ hệ thống dựa trên một PRO phi lợi nhuận duy nhất sang hệ thống kết hợp nhiều PRO vì lợi nhuận, hoạt động cạnh tranh với nhau. Sự thay đổi này được thúc đẩy bởi những thay đổi trong các quy định chống độc quyền. Hệ thống tính phí cũng đã thay đổi theo thời gian, dần dần chuyển sang một mô hình dựa trên các chủng loại và trọng lượng của vật liệu trong hệ thống. Tại Đạo luật bao bì năm 2019, có nhiều chính sách khuyến khích sử dụng bao bì tái chế nhiều hơn.
Tại Đức, tất cả các chi phí liên quan đến việc thu gom, phân loại và tái chế rác thải bao bì được cho là sẽ được chi trả bằng các khoản phí do các công ty có nghĩa vụ thanh toán, những công ty phải tham gia vào trung tâm đăng ký và trả phí cho một PRO mà họ lựa chọn. Các PRO quản lý các khoản phí này; ký kết hợp đồng và thỏa thuận với các công ty quản lý chất thải và các thành phố. Ban đầu, họ tập trung vào việc bắt buộc phải thu gom riêng các loại bao bì và sau đó tập trung vào tỷ lệ thu hồi. Từ năm 2019 trở đi, các mục tiêu tập trung vào việc đạt được các mục tiêu tái chế cao hơn thay vì mục tiêu tăng tỷ lệ thu gom trong thời gian trước. Một thay đổi quan trọng khác là việc đưa vào hệ thống đặt cọc – hoàn trả đối với bao bì đồ uống (chai PET, lon) vào đầu những năm 2000. Hệ thống này đã phát triển trong hai thập kỷ qua và hiện đã được đưa vào Đạo luật Bao bì bởi tính hiệu quả của nó. Phải mất gần 29 năm, một đạo luật về bao bì và và đó là một trung tâm đăng ký được thành lập có hiệu quả để tránh tình trạng thực hiện tự do tại Đức. Năng lực của ngành chất thải và tái chế đã được cải thiện đáng kể trong thời gian đó. Tỷ lệ thu hồi vật liệu đóng gói (tái chế vật liệu và thu hồi năng lượng) đã tăng từ 37,3% lên 94,3% từ năm 1991 đến năm 2017. Hoạt động thu gom, phân loại và thu hồi bao bì của các PRO tạo ra tổng doanh thu hơn 1 tỷ euro mỗi năm. Bao bì nhẹ được phân loại tại khoảng 45 cơ sở phân loại trên khắp nước Đức. Lượng chất thải đi qua mỗi con đường tái chế phải được báo cáo chính thức hàng năm [1]. Kết quả thu gom và tái chế năm 2017 là: 1,87 triệu tấn thủy tinh; 1,2 triệu tấn giấy, bìa các tông, hộp các tông (để đóng gói); 0,07 triệu tấn nhôm; 0,27 triệu tấn thiếc; 0,14 triệu tấn hộp đựng đồ uống; 1,2 triệu tấn nhựa được thu hồi. Việc cải thiện các chương trình EPR là một nỗ lực liên tục của Đức [2].

Hình 1: Mô hình EPR của Đức.
Từ 30 năm trước (1980s), tại Hàn Quốc, có 96% rác thải bị chôn lấp, đối diện với tình trạng ô nhiễm và thiếu đất cho các bãi chôn lấp và chịu gánh nặng tài chính nhà nước trong xử lí rác [3]. Để giải quyết tình trạng này, Hàn Quốc đã bắt đầu hành trình biến rác thành tài nguyên. Về chính sách, nước này đã ban hành Luật thúc đẩy Tái Chế và Tiết Kiệm Tài Nguyên (Luật Tái Chế) năm 2008; thành lập K-Eco (Korea Environment Corporation): Tập đoàn môi trường Hàn Quốc, giám sát thực thi EPR với mục tiêu thúc đẩy tuần hoàn tài nguyên; thành lập KORA (Korea Resource Circulation Agency): Cơ quan dịch vụ tuần hoàn tài nguyên Hàn Quốc – tổ chức công được Bộ Môi trường Hàn Quốc thành lập, có nhiệm vụ thực hiện nghĩa vụ thu hồi và tái chế trong hệ thống thực thi EPR và thúc đẩy lợi ích công thông qua việc tạo ra các nguồn cung và cầu ổn định các nguồn tài nguyên có thể tái chế. Đáng lưu ý, Hàn Quốc xác định các doanh nghiệp phải có trách nhiệm thu gom và xử lí rác thải, được quy định rõ trong hệ thống EPR (Extended Producer Responsibility – Trách nhiệm doanh nghiệp mở rộng). Theo đó, để xử lí rác, nhà sản xuất phải tự thu gom, tự xử lí rác hoặc trả tiền công quy thu gom và tái chế rác. Từ đó, Hàn Quốc đã tạo ra một ngành công nghiệp tái chế và thúc đẩy các doanh nghiệp chế tạo sản phẩm thân thiện với môi trường, giảm được gánh nặng tài chính cho nhà nước và tạo thêm cơ hội việc làm cho người dân.
Để xây dựng EPR thành công, Hàn Quốc quy định rõ trách nhiệm của từng đối tượng. Cụ thể, người tiêu dùng phải phân loại rác tại nguồn. Công ty tái chế thu gom và tái chế sản phẩm rác và bao bì EPR, tổ chức phân loại bao bì tại nguồn. Chính phủ địa phương phân loại rác tái chế theo hệ thống EPR. Cơ quan nhà nước xác nhận các dữ liệu doanh thu & nhập khẩu và vai trò của từng doanh nghiệp, thu và kiểm định hoạt động tái chế, chỉ đạo hoạt động liên quan đến EPR bao gồm cả hình phạt vi phạm luật tái chế, nghiên cứu các loại đồ chứa rác. Trong đó, Bộ Môi trường quản lý hệ thống EPR và thi hành, điều chỉnh các chính sách, kiểm tra và thông báo số liệu và mục tiêu tái chế của từng sản phẩm [5]. Hình thức thực hiện EPR của các nhà sản xuất: trực tiếp tái chế hoặc ký hợp đồng trực tiếp với doanh nghiệp tái chế hoặc tham gia PROs bằng cách trả phí đóng góp. Sau khi được nhà sản xuất, nhà nhập khẩu phân bổ nguồn phí thực hiện, PROs ký hợp đồng với các công ty tái chế để tái chế sản phẩm, bao bì. K-Eco (Tập đoàn Môi trường Hàn Quốc) tham gia giám sát hệ thống EPR và đảm bảo rằng các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu tuân thủ các yêu cầu báo cáo doanh số bán hàng và nhập khẩu của họ. Các cơ sở thu hồi tài nguyên (MRF) được đưa vào sử dụng để xử lý nhiều luồng chất thải riêng biệt, bao gồm giấy, nhựa, kim loại, chất thải xây dựng và rác thải điện tử. Chất thải phát sinh trong các nhà mặt đất, nhà đơn lẻ và cơ sở kinh doanh nhỏ được chính quyền địa phương thu gom và chuyển đến các cơ sở thu hồi vật liệu (MRF) (công và tư) để xử lý thêm. Bao bì từ các khu chung cư lớn và các tòa nhà khác được các đơn vị tái chế tư nhân thu gom và chuyển đến MRF do tư nhân điều hành, sau đó được chuyển đến các đơn vị tái chế và nhà sản xuất để sản xuất các sản phẩm tái chế. Sản phẩm bao bì là đối tượng thực hiện của EPR gồm: lon kim loại, chai thủy tinh, các tông và bìa cứng, chai PET và bao bì nhựa tổng hợp. Các loại bao bì này được sử dụng để đóng gói thực phẩm và đồ uống, sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm biển, sản phẩm chăn nuôi, chất tẩy rửa, thuốc men, mỹ phẩm… Hiện tại, hệ thống này đang được mở rộng bao gồm tổng cộng 32 sản phẩm: mặt hàng điện tử, đèn huỳnh quang, điện thoại di động, âm thanh, máy điều hòa không khí, máy tính cá nhân và pin, màng đóng gói. Máy in, máy photocopy và máy fax được thêm vào năm 2006, mỹ phẩm được thêm vào năm 2007 và vào năm 2008, hệ thống được mở rộng hơn nữa để bao gồm các loại pin. Hệ thống hoàn tiền đặt cọc tồn tại trước năm 2003 đã bị ngừng vào năm 2003 và được thay thế bằng hệ thống EPR. Nếu nhà sản xuất nào không đạt được mục tiêu của mình đều phải trả thêm phí tái chế để bù đắp thiếu hụt [6].
Tại Hàn Quốc, Cơ quan tuần hoàn tài nguyên Hàn Quốc (KORA) là đơn vị tham gia hỗ trợ điều hành trong cơ chế EPR. Cơ quan này có khoảng 600 doanh nghiệp thành viên và khoảng 90 nhân viên. KORA quản lý dòng tài chính để hỗ trợ hoạt động thu gom, phân loại và tái chế liên quan tới 4 loại vật liệu bao bì (hộp kim loại, chai thủy tinh, bao bì các-tông và một số loại nhựa nhất định) và các sản phẩm khác (lốp xe, dầu nhớt, pin, đèn huỳnh quang và phao đánh cá). KORA nhận kinh phí từ Hợp tác xã tái chế bao bì Hàn Quốc (KPRC), tổ chức này thu phí từ các doanh nghiệp thành viên. KPRC được thành lập năm 2013 trên cơ sở hợp nhất các hợp tác xã khác nhau đã tồn tại từ 2003 và ban đầu hoạt động trong các lĩnh vực chất thải bao bì khác nhau. KPRC có khoảng 4.700 doanh nghiệp thành viên và 40 nhân viên. Bộ Môi trường cung cấp khung pháp lý và chính sách. KPRC và KORA nằm dưới sự giám sát của Tập đoàn môi trường Hàn Quốc (KECO) [7].
Kết quả cho thấy, sản lượng rác được tái chế của Hàn Quốc đã tăng 72%. Tỷ lệ tái chế giấy, nhựa, kim loại, chất thải xây dựng và rác thải điện tử rất cao (>90%). Số lượng công ty tái chế đã tăng từ 2.941 vào năm 2001 lên 5.972 vào năm 2018. Có 217 cơ sở tái chế của khu vực công, với tổng suất là 4.723 tấn/ngày. Số lượng cơ sở tái chế của khu vực tư nhân là 524, với tổng công suất là 60.291 tấn/ngày. Năm 2016, Bộ Môi trường Hàn Quốc đã cấp khoản vay trị giá tổng cộng 103,6 tỷ won (khoảng 94,18 triệu đô la Mỹ) để tài trợ cho đầu tư vào các hoạt động tái chế. Khoản vay này sẽ được trả trong vòng 10 năm, với lãi suất là ưu đãi. 6 tỉ đô la Mĩ được tạo ra từ vật dụng tái chế; 5 tỉ đô la Mĩ từ việc cắt giảm chi phí đốt và chôn rác. Như vậy, Hàn Quốc đã giảm được gánh nặng tài chính và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn [8].

Hình 2: Mô hình triển khai EPR tại Hàn Quốc.
3. Một vài gợi mở cho Việt Nam
Thứ nhất, cần bổ sung quy định về điều chỉnh mức đóng góp tài chính cho hoạt động tái chế theo mức độ thân thiện với môi trường của sản phẩm tại Nghị định số 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Điều 54, Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Mức đóng góp này nên được xác định trên cơ sở các tiêu chí như khả năng tái chế, tỷ lệ vật liệu tái chế, mức độ dễ phân loại và mức độ độc hại của sản phẩm. Giải pháp này có cơ sở thực tiễn vững chắc từ kinh nghiệm của Đức, nơi hệ thống tính phí đã chuyển đổi dần sang mô hình dựa trên chủng loại và trọng lượng vật liệu, đồng thời tích hợp cơ chế đặt cọc – hoàn trả đối với bao bì đồ uống vào Đạo luật Bao bì do tính hiệu quả đã được kiểm chứng qua hai thập kỷ vận hành; nhờ đó, tỷ lệ thu hồi vật liệu đóng gói tại Đức đã tăng từ 37,3% lên 94,3% trong giai đoạn 1991-2017. Kinh nghiệm của Hàn Quốc cũng cho thấy tính hiệu quả của việc gắn nghĩa vụ tài chính với kết quả thực hiện: nhà sản xuất không đạt mục tiêu tái chế theo quy định phải trả thêm phí để bù đắp phần thiếu hụt, qua đó tạo động lực tuân thủ thực chất thay vì hình thức. Trên cơ sở tương thích với hai mô hình nêu trên, cơ chế điều chỉnh phí theo mức độ thân thiện với môi trường có thể được nghiên cứu áp dụng tại Việt Nam, do pháp luật hiện hành đã ghi nhận chỉ số tỷ lệ tái chế bắt buộc làm cơ sở tính mức đóng góp vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Việc áp dụng cần thực hiện theo lộ trình, trước hết thí điểm đối với một số nhóm sản phẩm có tiềm năng tái chế cao, đồng thời xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sản phẩm thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định về chứng nhận “doanh nghiệp xanh” dành cho doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm tái chế, gắn với các ưu đãi trong đấu thầu, tiếp cận vốn vay và miễn giảm thuế bảo vệ môi trường, qua đó tạo động lực để doanh nghiệp thiết kế sản phẩm xanh, sản phẩm tuần hoàn ngay từ đầu chuỗi giá trị.
Thứ hai, cần sửa đổi Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất sang các ngành, lĩnh vực khác ngoài các nhóm sản phẩm hiện đang áp dụng, như dệt may, nhựa và vật liệu xây dựng, nhằm kiểm soát tốt hơn các dòng chất thải phát sinh ra môi trường. Cách tiếp cận này phù hợp với lộ trình mở rộng phạm vi áp dụng mà Hàn Quốc đã thực hiện: từ nhóm bao bì và một số sản phẩm ban đầu, hệ thống trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất tại nước này lần lượt được bổ sung máy in, máy photocopy và máy fax vào năm 2006, mỹ phẩm vào năm 2007, và pin vào năm 2008, để đến nay đã bao quát tổng cộng 32 nhóm sản phẩm. Kinh nghiệm của Đức cũng cho thấy khung pháp lý về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất không mang tính tĩnh mà được điều chỉnh liên tục qua nhiều lần sửa đổi Sắc lệnh về bao bì trước khi được thay thế bằng Đạo luật Bao bì năm 2019, phản ánh quá trình hoàn thiện pháp luật theo hướng mở rộng dần phạm vi và nâng cao mục tiêu tái chế. Việc sửa đổi Điều 54 theo lộ trình bổ sung dần từng nhóm sản phẩm, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong từng giai đoạn,
Thứ ba, cần tiếp tục hoàn thiện quy định về trách nhiệm tái chế. Nghị định số 110/2026/NĐ-CP đã được ban hành và có hiệu lực thi hành, thay thế Dự thảo Nghị định trước đây do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì lấy ý kiến, qua đó bước đầu ghi nhận cơ chế hỗ trợ đối với đơn vị tái chế và tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế. Tuy nhiên, đây vẫn là giải pháp ở cấp độ nghị định; để có cơ sở pháp lý ổn định và lâu dài, cần sửa đổi Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 theo hướng công nhận chính thức tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế là một hình thức thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Kinh nghiệm của Đức cho thấy tính cần thiết của việc quy định rõ ràng về tổ chức này: hệ thống đã chuyển đổi từ mô hình một tổ chức phi lợi nhuận duy nhất sang mô hình nhiều tổ chức vì lợi nhuận hoạt động cạnh tranh với nhau, đi kèm với việc thành lập trung tâm đăng ký bắt buộc để ngăn chặn tình trạng thực hiện tự do; các tổ chức này phải ký kết hợp đồng với công ty quản lý chất thải và chính quyền địa phương, đồng thời báo cáo chính thức hằng năm về khối lượng chất thải qua từng con đường tái chế.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc cũng cung cấp một mô hình tổ chức đáng tham khảo: Cơ quan tuần hoàn tài nguyên Hàn Quốc quản lý dòng tài chính phục vụ hoạt động thu gom, phân loại và tái chế, nhận kinh phí từ tổ chức hợp tác thu phí của doanh nghiệp thành viên, và toàn bộ hệ thống này đặt dưới sự giám sát trực tiếp của cơ quan quản lý môi trường nhà nước. Trên cơ sở đối chiếu với hai mô hình nêu trên, việc thành lập và tổ chức hoạt động của tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế tại Việt Nam cần được quy định rõ ràng về điều kiện đăng ký, giới hạn cạnh tranh, minh bạch tài chính, mức độ thu gom và tái chế, nghĩa vụ công khai báo cáo hằng năm và chịu sự kiểm toán độc lập. Thực tiễn cho thấy, năm 2023, Tổ chức Tái chế bao bì Việt Nam là tổ chức đầu tiên được cấp phép hoạt động; trong giai đoạn thí điểm từ năm 2022 đến năm 2023, tổ chức này đã thu gom và tái chế thành công 17.000 tấn vật liệu bao bì, đồng thời công bố cam kết thu gom, tái chế khoảng 64.000 tấn vật liệu đóng gói khác nhau trong năm 2024 [9]. Kết quả bước đầu này cho thấy tính khả thi của mô hình, và việc phát triển tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế tại Việt Nam nên tuân theo lộ trình thí điểm với các ngành có tính khả thi cao trước khi mở rộng sang các ngành, lĩnh vực khác, tương tự cách tiếp cận từng bước mà cả Đức và Hàn Quốc đã áp dụng.
4. Kết luận
Chính sách EPR mở ra cơ hội quan trọng cho ngành công nghiệp tái chế phát triển, thúc đẩy quá trình chuyển dịch mô hình thu gom, tái chế từ khu vực phi chính thức sang khu vực hoạt động tuân thủ các quy định về môi trường; đồng thời gia tăng thu nhập cho hệ thống thu gom phế liệu, tạo việc làm và cải thiện đời sống cho một bộ phận đáng kể người lao động, và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế về môi trường. Tuy nhiên, quá trình triển khai EPR cũng đang đối diện với không ít thách thức, thể hiện ở cơ sở vật chất phục vụ phân loại, thu gom còn hạn chế; nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm tra, giám sát còn mỏng; ý thức của cộng đồng trong phân loại rác tại nguồn hướng tới tái chế chưa được nâng cao, khiến hoạt động này chưa được thực hiện phổ biến; đồng thời còn thiếu các chính sách khuyến khích đồng bộ, như lộ trình sử dụng nguyên liệu tái chế trong sản xuất hay quy định về thiết kế sinh thái nhằm tạo điều kiện cho hoạt động tái chế trở nên khả thi và bền vững hơn. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia đi trước như Cộng hòa Liên bang Đức và Hàn Quốc, làm cơ sở tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý trong nước, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và bảo vệ môi trường bền vững.
Danh mục tài liệu tham khảo
[1] Kurt Schüler (GVM) (2019), “Aufkommen und Verwertung von Verpackungsabfällen in Deutschland im Jahr 2017”, Umweltbundesamt Texte, 139/2019.
[2] Expertise France, EPR Toolbox – Vietnamese, tr. 134-147, https://www.expertisefrance.fr/documents/20182/778216/EPR%2BToolbox%2B-%2BVietnamese/a09bd41a-cb7f-4537-bccc-f8dbcc2da0b0 (truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2025).
[3] Expertise France, EPR Toolbox – Vietnamese, tr. 142, https://www.expertisefrance.fr/documents/20182/778216/EPR%2BToolbox%2B-%2BVietnamese/a09bd41a-eb7f-4537-bccc-f8dbcc2da0b0 (truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2025).
[4] Agnes Bünemann, Jana Brinkmann, Stephan Löhle và Sabine Bartnik (2020), EPR Tool Box, Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH – PREVENT Waste Alliance, tr. 169.
[5] Báo Tài nguyên và Môi trường, “Xử lý rác thải Việt Nam: Học được kinh nghiệm gì từ Hàn Quốc?”, https://baotainguyenmoitruong.vn/xu-ly-rac-thai-viet-nam-hoc-duoc-kinh-nghiem-gi-tu-han-quoc-322104.html (truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2025).
[6] Ministry of Environment, Republic of Korea, Environmental Statistics Yearbook.
[7] Rethinking Plastics, Extended Producer Responsibility Policy Brief, https://rethinkingplastics.eu/media/acfupload/Extended-Producer-Responsibility-Policy-Brief-Vietnamese.pdf (truy cập ngày 01 tháng 2 năm 2025).
[8] Korea Environment Corporation (KECO), Official Website, https://www.keco.or.kr/en/lay1/S295T386C400/contents.do (truy cập ngày 01 tháng 2 năm 2025).
[9] Expertise France, EPR Toolbox – Vietnamese, tr. 171, https://www.expertisefrance.fr/documents/20182/778216/EPR%2BToolbox%2B-%2BVietnamese/a09bd41a-cb7f-4537-bccc-f8dbcc2da0b0 (truy cập ngày 01 tháng 2 năm 2025).
Nguồn: ThS. NGUYỄN NGỌC ÁI NHƯ – Tạp chí Điện tử Luật sư Việt Nam






Để lại một bình luận