1. Đặt vấn đề
Nhìn lại chặng đường lịch sử sau 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước và 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng CSVN, đất nước ta đã kiến tạo nên những kỳ tích phát triển đầy tự hào. Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao, vững bước vươn lên trở thành nước có thu nhập trung bình cao; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện rõ rệt (Đảng CSVN, 2026). Những thành quả này là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới, khẳng định sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khi được vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn khách quan của Việt Nam. Sự phát triển vượt bậc đó không chỉ củng cố thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế mà còn tạo lập nền tảng vật chất – kỹ thuật vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, hội nhập sâu rộng.
Tuy nhiên, dưới lăng kính biện chứng của khoa học chính trị và quản lý nhà nước, khi soi chiếu vào những biến thiên phức tạp của thời đại, thực tiễn đang đặt ra những nghịch lý và thách thức mang tính sống còn. Quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước trong những năm qua, dù đã có nhiều nỗ lực, song vẫn còn chậm chạp và bộc lộ những giới hạn của tính chu kỳ; tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, neo bám quá nhiều vào vốn, khai thác tài nguyên thiên nhiên và lợi thế lao động chi phí thấp (Đảng CSVN, 2026). Năng suất lao động tổng hợp, năng lực khoa học, công nghệ và đặc biệt là hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia còn thấp, chưa thực sự trở thành động lực nội sinh cốt lõi; năng lực tự chủ chiến lược, khả năng chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài còn nhiều hạn chế. Hơn thế nữa, văn hóa chưa thực sự được phát huy xứng tầm để trở thành nguồn lực và động lực nội sinh của phát triển; an sinh xã hội, an ninh con người còn một số mặt chưa vững chắc; công tác quản lý môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và tối ưu hóa tài nguyên chưa đạt hiệu quả cao; đặc biệt, đổi mới phương thức quản trị quốc gia chưa bắt kịp và chưa đáp ứng được đòi hỏi khắt khe của một nền kinh tế đang chuyển đổi (Đảng CSVN, 2026).
Bước vào nửa sau của thập niên 2020, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, định hình lại toàn bộ cấu trúc quyền lực và chuỗi cung ứng toàn cầu, tạo ra những thời cơ đan xen với các thách thức dị thường (Đảng CSVN, 2026). Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số, đã làm thay đổi tận gốc rễ phương thức sản xuất và các quan hệ xã hội. Một trong những biểu hiện rõ nét và mang tính thách thức nhất đối với mô hình quản lý truyền thống là sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế GIG (nền kinh tế chia sẻ/nền kinh tế tự do). Sự bành trướng của nền kinh tế GIG đã phá vỡ các cấu trúc lao động tuyến tính cũ, tạo ra một lực lượng sản xuất linh hoạt khổng lồ, nhưng đồng thời cũng đẩy hệ thống an sinh xã hội, khung pháp lý về quyền lợi người lao động và phương thức thu ngân sách nhà nước vào tình trạng quá tải, tụt hậu. Sự đứt gãy giữa thực tiễn lực lượng sản xuất (ngày càng số hóa, phi tập trung như kinh tế GIG, kinh tế không gian số) với quan hệ sản xuất và thượng tầng kiến trúc (hệ thống pháp luật hành chính nặng tính “tiền kiểm”) đòi hỏi một cuộc cách mạng về thể chế kiến tạo để không bỏ ai lại phía sau, bảo đảm an ninh con người trong mọi hoàn cảnh.
Nhận thức sâu sắc tính quy luật khách quan đó, ở trong nước, Đảng đã liên tục cập nhật tư duy lý luận, ban hành nhiều chủ trương, quyết sách, mục tiêu chiến lược và các khâu đột phá, đặc biệt là mục tiêu đầy tham vọng: phấn đấu đạt mức tăng trưởng “2 con số” (Đảng CSVN, 2026). Khát vọng vĩ đại này đòi hỏi chúng ta không thể tiếp tục thực hiện những cải cách tiệm tiến, mang tính chắp vá, mà bắt buộc phải tiến hành một cuộc đại phẫu, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và triệt để về mô hình phát triển đất nước trong thời gian tới. Sự chuyển đổi này phải giải quyết được bài toán giải phóng mọi nguồn lực xã hội đang bị kìm hãm bởi tư duy “quản lý, kiểm soát” truyền thống, từng bước xác lập vai trò “kiến tạo, dẫn dắt phát triển” của Nhà nước pháp quyền XHCN.
Để hiện thực hoá khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có mức thu nhập cao vào năm 2045; đồng thời mạnh dạn xác lập những nền tảng lý luận và thực tiễn vững chắc cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng (2030 – 2130), Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã chính thức ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về “đổi mới mô hình phát triển Việt Nam” (Đảng CSVN, 2026). Đây không chỉ là một văn kiện chính trị – pháp lý mang tầm vóc lịch sử, mà còn là bản tuyên ngôn của thời đại mới, đánh dấu sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân trong việc hoạch định triết lý phát triển quốc gia. Nghị quyết đã tạo ra sự chuyển dịch hệ hình khi chính thức định hướng chuyển đổi sang một mô hình phát triển mới với 5 trụ cột thuộc tính: “tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”.
Xuất phát từ bối cảnh lý luận và thực tiễn đầy tính cấp bách nêu trên, bài viết “Đổi mới toàn diện mô hình phát triển Việt Nam tầm nhìn 2130: Đột phá thể chế kiến tạo, khơi thông lực lượng sản xuất mới và xây dựng hệ sinh thái tự cường, nhân văn” được thực hiện. Thông qua lăng kính liên ngành của Chính trị học, Xây dựng Đảng và Quản lý nhà nước, nghiên cứu tập trung đi sâu bóc tách nội hàm cốt lõi của Nghị quyết 19-NQ/TW, phân tích đánh giá các điểm nghẽn thể chế hiện hành, từ đó luận giải các giải pháp đột phá nhằm kiến tạo hệ sinh thái thể chế – pháp luật linh hoạt (đặc biệt trong việc quản trị các mô hình mới như kinh tế GIG và kinh tế số). Mục tiêu tối thượng của bài viết là cung cấp các luận cứ khoa học sắc bén, góp phần cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho quá trình chuyển đổi tư duy lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững, bao trùm, đặt con người làm trung tâm của mọi sự phát triển.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
2. Đột phá thể chế và quản trị quốc gia: Nền tảng kiến tạo hệ sinh thái phát triển
2.1. Đổi mới tư duy lập pháp và triết lý kiến tạo trong Nhà nước pháp quyền XHCN
Khâu đột phá trọng tâm, mang tính chất quyết định để vận hành thành công mô hình phát triển mới chính là việc tiến hành một cuộc cải cách sâu rộng, mạnh mẽ về thể chế và phương thức quản trị quốc gia. Nhìn từ tiến trình lịch sử, nếu như Đại hội XII và XIII của Đảng đã đặt nền móng cho tư duy về một “Nhà nước kiến tạo phát triển”, thì đến Đại hội XIV và đặc biệt là Nghị quyết số 19-NQ/TW (năm 2026), Đảng ta đã nâng tầm tư duy này thành một nguyên tắc Hiến định và trụ cột vận hành quốc gia. Văn kiện đã chỉ rõ yêu cầu bức thiết phải chuyển dịch triệt để từ tư duy quản lý, kiểm soát truyền thống sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt phát triển. Trong đó, khâu đột phá được xác định là: đổi mới thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia nhằm tạo ra năng lực phát triển mới.
Dưới góc độ Chính trị học và Quản lý nhà nước, sự thay đổi này đòi hỏi hệ thống pháp luật không thể tiếp tục được xây dựng trong “tháp ngà” tư duy hành chính mệnh lệnh, mà bắt buộc phải bám sát hơi thở của đời sống kinh tế – xã hội. Lập pháp phải “đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam”, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh hoa của nhân loại để bảo đảm tính hệ thống, linh hoạt và tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Thực tiễn quản lý nhà nước thời gian qua cho thấy sự chậm trễ trong phản ứng chính sách đã làm lỡ nhịp nhiều cơ hội thu hút đầu tư chiến lược. Do đó, Nghị quyết yêu cầu kiên quyết chấm dứt triệt để tư duy “không quản được thì cấm”. Đây là một sự cởi trói mạnh mẽ về mặt nhận thức, báo hiệu sự chuyển giao từ mô hình Nhà nước can thiệp vi mô sang mô hình Nhà nước tạo lập không gian, mở đường và khơi thông mọi nguồn lực, biến thể chế và pháp luật thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi của quốc gia.
2.2. Chuyển đổi số trong quản trị quốc gia và phương thức “hậu kiểm thông minh”
Sự vận hành của nền quản trị quốc gia hiện đại không thể tách rời kỷ nguyên bùng nổ dữ liệu. Hệ thống hành chính công đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc: phương thức quản trị quốc gia phải chuyển mạnh từ “tiền kiểm” – vốn tạo ra vô vàn rào cản thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ khổng lồ và nguy cơ nhũng nhiễu – sang cơ chế “hậu kiểm thông minh”. Cơ chế “hậu kiểm thông minh” không đồng nghĩa với việc nới lỏng quản lý, mà là sự tinh gọn hóa đầu vào và siết chặt kỷ luật đầu ra thông qua việc quản lý dựa trên nền tảng dữ liệu dùng chung, đo lường bằng kết quả đầu ra và tác động thực tiễn đến sự phát triển.
Yêu cầu này đặt ra nhiệm vụ cấp bách trong việc xây dựng Chính phủ số toàn diện, thiết lập các trung tâm dữ liệu quốc gia liên thông để theo dõi quá trình thực thi chiến lược, quy hoạch, đầu tư công và các chỉ tiêu phát triển theo thời gian thực. Thông qua đó, các bộ, ngành và chính quyền địa phương sẽ chuyển từ việc quản trị theo cảm tính, kinh nghiệm sang quản trị theo mục tiêu, quản trị theo không gian phát triển và quản trị rủi ro. Việc đo lường hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề sẽ trở thành thước đo tối thượng cho năng lực của bộ máy nhà nước.
2.3. Khung pháp lý “thử nghiệm có kiểm soát” (Sandbox): Giải bài toán cho lực lượng sản xuất mới
Trước sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp 4.0, các mô hình kinh doanh truyền thống đang bị phá vỡ và thay thế bởi những lực lượng sản xuất hoàn toàn mới. Thể chế kiến tạo phải là bệ phóng cho đổi mới sáng tạo, do đó, đòi hỏi cấp bách là phải hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cơ chế “thử nghiệm có kiểm soát” trong các lĩnh vực, từ đó thúc đẩy các ngành, địa phương ban hành các cơ chế thử nghiệm phù hợp. Khung pháp lý này đặc biệt nhắm tới việc tạo dư địa an toàn để thí điểm các mô hình kinh doanh mới, lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, kinh tế không gian tầm thấp, cũng như các quy định nghiêm ngặt về bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền con người trên không gian mạng.
Một trong những ví dụ điển hình đòi hỏi sự can thiệp tinh tế của thể chế kiến tạo chính là sự bùng nổ của nền kinh tế GIG (nền kinh tế chia sẻ/tự do). Lực lượng lao động nền tảng trong nền kinh tế GIG đang đóng góp ngày càng lớn vào GDP nhưng lại nằm ngoài các khung bảo vệ của Luật Lao động truyền thống. Thể chế mới không thể dùng lăng kính quản lý doanh nghiệp thế kỷ 20 để áp đặt lên các siêu nền tảng thế kỷ 21. Thay vào đó, thông qua cơ chế sandbox, Nhà nước tạo ra các hành lang pháp lý linh hoạt để vừa khuyến khích sự tự chủ, sáng tạo, giải phóng sức lao động của nền kinh tế GIG, vừa kiến tạo được một hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, liên thông dữ liệu nhằm bảo vệ nhóm lao động tự do này trước các cú sốc kinh tế. Đồng thời, thể chế phải bảo đảm sự nhất quán trong việc dung nạp rủi ro, bảo đảm cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, coi đó là học phí tất yếu của quá trình tiến hóa công nghệ.
2.4. Công tác xây dựng Đảng và đổi mới công tác cán bộ làm rường cột cho quản trị quốc gia
Phân tích từ góc nhìn Xây dựng Đảng, thể chế tốt đến mấy cũng sẽ bị vô hiệu hóa nếu thiếu đi đội ngũ cán bộ mẫn cán, đủ tầm vóc. Nghị quyết 19-NQ/TW đã xác định rõ: công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tổ chức và cán bộ chính là yếu tố cốt lõi của quản trị quốc gia. Đổi mới phương thức tổ chức, quản trị quốc gia phải bắt đầu từ việc nâng cao năng lực hoạch định chiến lược, kiến tạo thể chế của tổ chức Đảng.
Sự đột phá thể chế gắn liền với việc đổi mới toàn diện công tác cán bộ, lấy hiệu quả công việc và sản phẩm đầu ra làm thước đo chủ yếu. Hệ thống chính trị cần vận hành cơ chế bảo vệ một cách thực chất và mạnh mẽ đối với những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; kiên quyết loại bỏ sự trì trệ, né tránh trách nhiệm, đùn đẩy công việc đang làm xói mòn niềm tin xã hội. Hơn thế nữa, cần tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý cho các địa phương đủ năng lực, bảo đảm mọi nhiệm vụ đều “rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực và rõ thời gian”. Chính sự cộng hưởng giữa một khung thể chế pháp luật ưu việt, minh bạch và một đội ngũ cán bộ thực thi có kỷ luật, có năng lực sáng tạo sẽ khơi thông mạnh mẽ mọi nguồn lực tồn đọng, chuyển hóa chúng thành động lực đưa Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên vươn mình.
3. Khơi thông lực lượng sản xuất mới: Động lực trung tâm của kỷ nguyên công nghệ
3.1. Sự dịch chuyển căn bản về chất của lực lượng sản xuất trong tiến trình quá độ lên CNXH
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất và suy cho cùng là nhân tố quyết định sự phát triển của mọi hình thái kinh tế – xã hội. Quán triệt sâu sắc nguyên lý biện chứng này, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã đánh dấu một bước ngoặt về tư duy chiến lược khi khẳng định sự chuyển hướng mạnh mẽ sang việc bồi đắp và phát triển các lực lượng sản xuất mới, hiện đại. Nếu như trong các giai đoạn trước, sự tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc giải phóng sức lao động cơ bắp và khai thác tài nguyên thiên nhiên, thì trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia được xác định là những động lực chính, mang tính quyết định.
Việc khơi thông lực lượng sản xuất mới không chỉ là một giải pháp kinh tế thuần túy mà là một yêu cầu mang tính sinh tử của hệ thống chính trị nhằm thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Đại hội XIII và đặc biệt là Đại hội XIV của Đảng (năm 2026) đã liên tục hoàn thiện lý luận, chỉ rõ rằng sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước phải dựa vững chắc vào khoa học công nghệ (Đảng CSVN, 2026). Khoa học và công nghệ không còn đơn thuần là một lĩnh vực hỗ trợ mà đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu của tăng trưởng. Thể chế quản trị quốc gia phải hướng tới việc tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp, nơi các ý tưởng đổi mới sáng tạo được bảo vệ, ươm tạo và nhanh chóng thương mại hóa.
3.2. Dữ liệu chiến lược và Trí tuệ nhân tạo (AI): Hạ tầng nền tảng của nền kinh tế tri thức
Bước vào nửa sau của thập niên 2020, tư duy kinh tế mới của Đảng và Nhà nước đã có bước tiến vượt bậc khi chính thức định vị dữ liệu là tư liệu sản xuất mới và tài nguyên chiến lược của quốc gia. Khác với các nguồn tài nguyên truyền thống như đất đai hay khoáng sản vốn có tính khan hiếm và cạn kiệt, dữ liệu là một loại tài nguyên đặc biệt: càng được chia sẻ, kết nối và khai thác, nó càng sinh ra những giá trị thặng dư to lớn. Thể chế quản trị nhà nước hiện đại đòi hỏi phải công khai, minh bạch, có kiểm soát đối với dữ liệu khu vực công, biến khối tài sản khổng lồ này thành nguyên liệu đầu vào cho đổi mới sáng tạo của toàn xã hội.
Đồng thời, định hướng chiến lược đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển trí tuệ nhân tạo thành hạ tầng trí tuệ và lực lượng sản xuất chất lượng cao. Trí tuệ nhân tạo không chỉ là một ngành công nghệ mũi nhọn mà là “hạ tầng của các hạ tầng”, chi phối và tối ưu hóa năng suất của mọi ngành kinh tế khác. Để hiện thực hóa điều này, hệ thống chính trị phải tập trung triển khai đồng bộ Chiến lược chuyển đổi trí tuệ nhân tạo quốc gia, ưu tiên nguồn lực khổng lồ để phát triển hạ tầng tính toán quốc gia, xây dựng mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt và các nền tảng công dân số. Sự tự chủ về dữ liệu và thuật toán AI chính là sự bảo đảm cao nhất cho an ninh kinh tế và độc lập tự chủ trong thế kỷ 21.
3.3. Tổ chức lại không gian phát triển: Khai mở các chiều kích kinh tế đa tầng, đa cực
Một trong những đột phá vĩ đại nhất về tư duy quản trị không gian kinh tế được thể hiện trong việc tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ: đất liền – vùng biển – vùng trời – lòng đất – không gian số. Sự chuyển dịch từ phát triển manh mún theo địa giới hành chính sang phát triển theo chức năng, chuỗi giá trị và lợi thế so sánh đánh dấu sự trưởng thành trong năng lực điều phối vĩ mô của Nhà nước pháp quyền.
Bên cạnh việc kiên định đưa biển trở thành không gian phát triển chiến lược, động lực tăng trưởng dài hạn thông qua công nghiệp hàng hải hiện đại, xanh và số, nền kinh tế Việt Nam đang vươn mình khai thác các dư địa hoàn toàn mới. Nổi bật là việc định hình kinh tế không gian tầm thấp – bao gồm hệ sinh thái thiết bị bay không người lái và logistics hàng không – trở thành ngành kinh tế – kỹ thuật quan trọng, có năng lực cạnh tranh cao. Hơn thế nữa, chiến lược phát triển không gian ngầm tại các siêu đô thị, trung tâm tài chính, cùng với việc bước đầu hình thành hệ sinh thái kinh tế vũ trụ thông qua việc làm chủ công nghệ vệ tinh, thể hiện một tầm nhìn vượt trước thời đại, định vị Việt Nam trong chuỗi giá trị công nghệ cao toàn cầu.
3.4. Sự trỗi dậy của hình thái tổ chức lao động mới: Nền kinh tế nền tảng và kinh tế GIG
Khi lực lượng sản xuất thay đổi, quan hệ sản xuất bắt buộc phải có sự điều chỉnh tương ứng để mở đường cho sự phát triển. Chuyển đổi số toàn diện đã làm nảy sinh và thúc đẩy sự bùng nổ của nền kinh tế GIG (nền kinh tế chia sẻ/kinh tế tự do) và các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng số. Đây là một phương thức tổ chức lực lượng sản xuất hoàn toàn mới, mang tính linh hoạt cao, huy động được nguồn lực lao động khổng lồ trong xã hội, đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng bao trùm.
Dưới lăng kính quản lý nhà nước, nền kinh tế GIG đang đặt ra những bài toán hóc búa về việc cân bằng giữa sự tự do, năng động của thị trường với yêu cầu quản lý nhà nước và an sinh xã hội. Thực tiễn đòi hỏi hệ thống pháp luật phải nhanh chóng thiết lập các định chế mới để định danh, quản lý và bảo vệ lực lượng lao động đặc thù này. Văn kiện của Đảng đã nhạy bén chỉ đạo việc phải hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động, chuyển đổi số toàn diện thị trường lao động và đặc biệt là hoàn thiện cơ chế, chính sách và phát triển hệ thống an sinh phù hợp với lao động phi chính thức, lao động nền tảng. Việc tháo gỡ các nút thắt về pháp lý cho nền kinh tế GIG, bảo đảm cơ hội tiếp cận việc làm bền vững, công bằng, không để ai bị bỏ lại phía sau, chính là minh chứng rõ nét nhất cho thuộc tính “nhân văn” và “bao trùm” của mô hình phát triển mới. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế GIG nếu được điều tiết bởi một thể chế kiến tạo, sẽ trở thành bộ đệm giảm xóc hiệu quả cho thị trường việc làm trước những biến động của chu kỳ kinh tế toàn cầu.
3.5. Hoàn thiện thị trường nhân tố sản xuất và kiến tạo trung tâm tài chính quốc tế
Để các lực lượng sản xuất mới và các không gian kinh tế đa tầng thực sự phát huy sức mạnh, mạch máu tài chính và các thị trường nhân tố sản xuất phải được khơi thông. Phương thức quản lý nhà nước về kinh tế phải chuyển từ tư duy phân bổ ngân sách thụ động sang tư duy hạch toán kinh tế tổng thể, lấy hiệu quả và tác động phát triển làm thước đo tối thượng.
Nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2030 là phải phát triển đồng bộ, hiện đại và minh bạch các thị trường nhân tố sản xuất cốt lõi, đặc biệt là thị trường vốn, khoa học, công nghệ, dữ liệu và lao động chất lượng cao. Yêu cầu bứt phá đòi hỏi phải xác lập đầy đủ quyền tài sản đối với kết quả nghiên cứu, từ đó đưa quyền sở hữu trí tuệ trở thành căn cứ hợp pháp để góp vốn, bảo lãnh tín dụng, thúc đẩy thương mại hóa tri thức. Đặc biệt, khát vọng vươn tầm đòi hỏi Việt Nam phải khẩn trương mở rộng các kênh vốn dài hạn và phát triển trung tâm tài chính quốc tế với cơ chế đặc thù, vượt trội. Trung tâm tài chính này không chỉ là đầu mối huy động và phân bổ nguồn lực toàn cầu mà còn là “căn cứ địa” để thử nghiệm thể chế, thúc đẩy tài chính xanh, tài chính khí hậu, dẫn dắt nền kinh tế vững bước trên quỹ đạo tiến lên CNXH văn minh, hiện đại.
4. Kiến tạo hệ sinh thái Xã hội, Văn hóa và Môi trường: Lấy con người làm chủ thể trung tâm
4.1. Giải quyết bài toán an sinh xã hội bao trùm và sự thích ứng mang tính quy luật với nền kinh tế GIG
Xuyên suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định nguyên tắc phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, thuộc tính “nhân văn” trong mô hình phát triển được Nghị quyết số 19-NQ/TW tái khẳng định một cách mạnh mẽ, yêu cầu mọi sự phát triển phải hướng tới an ninh con người và tiến bộ, công bằng xã hội. Đây không chỉ là mục tiêu tự thân của CNXH mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội, tạo lập môi trường vững chắc cho tăng trưởng bền vững.
Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hình thái kinh tế – xã hội đang chứng kiến những sự chuyển dịch cấu trúc sâu sắc, nổi bật nhất là sự bùng nổ của nền kinh tế chia sẻ và kinh tế GIG. Lực lượng sản xuất mới này đã phá vỡ các khuôn mẫu lao động truyền thống, tạo ra hàng triệu việc làm tự do, linh hoạt. Tuy nhiên, nhìn từ lăng kính quản trị nhà nước, nền kinh tế GIG đang đặt ra những thách thức chưa từng có đối với hệ thống pháp luật lao động và mạng lưới an sinh xã hội vốn được thiết kế cho nền kinh tế công nghiệp tuyến tính. Hàng triệu lao động nền tảng đang đứng trước nguy cơ bị gạt ra khỏi lưới an sinh, chịu sự tổn thương sâu sắc trước các biến động kinh tế. Nhận thức rõ lỗ hổng thể chế này, Nghị quyết đã nhấn mạnh yêu cầu cấp bách phải hoàn thiện cơ chế, chính sách và phát triển hệ thống an sinh xã hội hiện đại, đa tầng, bao trùm, linh hoạt, đặc biệt là phải phù hợp và bao phủ được nhóm lao động phi chính thức, lao động nền tảng. Việc hiện đại hóa thị trường lao động trên nền tảng dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo, kết nối đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động chính là bước đi đột phá để Nhà nước “nắm” được lực lượng này, từ đó kiến tạo các gói an sinh xã hội số, bảo đảm không một ai bị bỏ lại phía sau trong guồng quay của quá trình số hóa.
Bên cạnh sự biến đổi của thị trường lao động, Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh bậc nhất thế giới. Thực tiễn này đòi hỏi một cuộc cách mạng trong tư duy nhân khẩu học. Văn kiện định hướng rõ việc chuyển dịch từ tư duy ứng phó, quản lý quy mô cơ cấu dân số sang tư duy khai thác cơ hội phát triển từ quá trình chuyển đổi dân số. Hệ thống chính trị cần chủ động kiến tạo không gian cho sự phát triển mạnh mẽ của “kinh tế bạc”, hình thành các hệ sinh thái, sản phẩm và dịch vụ chuyên biệt cho người cao tuổi. Việc coi dân số là nguồn lực chiến lược của tăng trưởng dài hạn và đầu tư cho an sinh là đầu tư cho phát triển đã thể hiện một tầm nhìn vượt trội, biến áp lực già hóa thành một động lực kinh tế mới, vừa giải quyết bài toán nhân đạo, vừa kích thích các ngành dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe toàn diện.
4.2. Đánh thức nguồn lực nội sinh: Tài sản hóa giá trị văn hóa và xác lập chủ quyền văn hóa số
Lý luận về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được nâng lên một tầm cao mới trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Văn hóa không chỉ đơn thuần là nền tảng tinh thần của xã hội mà đã chính thức được Đảng định vị là nguồn lực, động lực nội sinh, năng lực sáng tạo và sức mạnh mềm cốt lõi cho sự phát triển nhanh, bền vững quốc gia.
Điểm sáng tạo đột phá, mang tính bước ngoặt trong định hướng chiến lược đến năm 2035 là chủ trương giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển thông qua việc tài sản hóa các giá trị văn hóa. Khái niệm “tài sản hóa” đòi hỏi Nhà nước phải hoàn thiện khung pháp lý để định giá, bảo hộ và thương mại hóa các di sản, tài nguyên văn hóa, từ đó xây dựng và vận hành một thị trường tài sản trí tuệ văn hóa chuyên nghiệp. Cơ chế này sẽ là đòn bẩy vĩ đại để phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, biến những giá trị truyền thống thành chuỗi giá trị thặng dư kinh tế mang quy mô toàn cầu, đẩy mạnh xuất khẩu văn hóa.
Hơn thế nữa, sự dịch chuyển của các không gian sống sang môi trường không gian mạng đòi hỏi năng lực quản trị quốc gia phải bao trùm cả thế giới số. Việc gìn giữ, phát huy và lan tỏa mạnh mẽ văn hóa Việt Nam không chỉ dừng lại ở đời sống xã hội thực mà còn phải được thiết lập vững chắc trên môi trường số. Lần đầu tiên, yêu cầu bảo vệ chủ quyền văn hóa số quốc gia được đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược ngang tầm với bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Đây là bộ lọc tư tưởng và bức tường thành vững chắc để chống lại sự xâm lăng văn hóa phi truyền thống, bảo vệ bản lĩnh, ý thức thượng tôn pháp luật và tinh thần tự cường của con người Việt Nam trong thời đại số.
4.3. Chuyển đổi sinh thái và các công cụ kinh tế kiến tạo không gian phát triển bền vững
An ninh môi trường sinh thái đã trở thành một trong những trụ cột an ninh phi truyền thống quan trọng nhất quyết định sự tồn vong của chế độ và quốc gia. Chuyển đổi mô hình phát triển đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ tư duy đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Mô hình mới yêu cầu cải thiện chất lượng môi trường sống, kinh tế – xã hội phải phát triển trong khả năng chịu tải của giới hạn sinh thái. Việc thực hiện cam kết quốc tế về mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 theo lộ trình phù hợp không chỉ là trách nhiệm quốc tế mà còn là mệnh lệnh từ trái tim, từ lợi ích sống còn của dân tộc.
Để hiện thực hóa khát vọng đó, mô hình yêu cầu phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế tuần hoàn và kinh tế cácbon thấp. Việc quản trị tài nguyên và môi trường phải dựa trên nền tảng số, dữ liệu liên thông và giám sát theo thời gian thực. Dưới góc độ quản lý kinh tế – tài chính nhà nước, các biện pháp hành chính giáo điều đang dần nhường chỗ cho các cơ chế điều tiết vĩ mô sắc bén. Các công cụ kinh tế như phát triển và vận hành đầy đủ thị trường tín chỉ carbon, áp dụng cơ chế định giá tín chỉ carbon, mua sắm công xanh và mở rộng tín dụng xanh, trái phiếu xanh được xác định là những thiết chế cốt lõi.
Đặc biệt, thể hiện tinh thần phân cấp mạnh mẽ của quản trị quốc gia hiện đại, định hướng mới cho phép phân quyền mạnh cho các đô thị lớn trong việc thu phí môi trường, phát hành trái phiếu xanh và chủ động tổ chức các vùng phát thải thấp. Những giải pháp đột phá này sẽ kiến tạo nên một nền công nghiệp môi trường và công nghệ khí hậu mang tầm chiến lược, tạo ra một hệ sinh thái phát triển hiện đại, thông minh, bền vững, đủ sức chống chịu trước các dị thường của biến đổi khí hậu toàn cầu.
5. Bảo đảm tự chủ chiến lược: Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại kiến tạo
5.1. Nhận thức mới về an ninh toàn diện và tự chủ chiến lược trong thế giới đầy biến động
Bước vào giai đoạn định hình trật tự thế giới mới, sự cạnh tranh địa chính trị và địa kinh tế giữa các nước lớn đang diễn ra vô cùng gay gắt, đặt ra những thách thức chưa từng có đối với môi trường hòa bình và ổn định của Việt Nam. Dưới ánh sáng của tư duy lý luận mới, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã có sự phát triển đột phá khi yêu cầu sự “kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại trong tất cả các khâu từ hoạch định chiến lược đến quy hoạch và phân bổ nguồn lực”. Sự gắn kết hữu cơ này khẳng định rằng, trong kỷ nguyên số, an ninh quốc gia không chỉ giới hạn ở việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ vật lý mà đã mở rộng thành khái niệm an ninh toàn diện.
Thể chế quản trị quốc gia hiện đại phải kiến tạo được hệ thống phòng thủ đa tầng trên các không gian chiến lược mới. Nghị quyết đã nhấn mạnh yêu cầu phải bảo vệ vững chắc “an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh văn hoá tư tưởng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, an ninh công nghệ, an ninh tài chính và an ninh các không gian, lĩnh vực mới (không gian vũ trụ, tầm thấp, ngầm, biển và đại dương…)”. Đặc biệt, sự tự chủ chiến lược về công nghệ và dữ liệu được xem là “lá chắn thép” của thế kỷ 21. Việc xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc phòng, hệ thống chỉ huy số liên thông, và thiết lập cơ chế kiểm tra định kỳ sức chống chịu quốc gia trước rủi ro chuỗi cung ứng công nghệ là những đòi hỏi mang tính sống còn để “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”.
5.2. Công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng và sứ mệnh của khu vực tư nhân
Một trong những điểm nhấn mang tính cách mạng trong tư duy xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân của Nghị quyết số 19-NQ/TW là định hướng đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh “chủ động, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược, lưỡng dụng, hiện đại với sự tham gia phù hợp của khu vực tư nhân trong nước”. Lần đầu tiên, vai trò của các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ hàng đầu của dân tộc, được xác định là một cấu thành hữu cơ trong tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Sự chuyển dịch sang mô hình “công nghiệp lưỡng dụng” (vừa phục vụ dân sinh, vừa phục vụ quốc phòng) giải quyết bài toán tối ưu hóa nguồn lực khổng lồ của xã hội. Thể chế kiến tạo sẽ mở đường, tạo ra “cơ chế đặt hàng, thử nghiệm, thương mại hoá và xuất khẩu có kiểm soát sản phẩm lưỡng dụng”. Định hướng này ưu tiên tập trung nguồn lực phát triển các lĩnh vực mũi nhọn như “trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, vệ tinh, phương tiện không người lái, rôbốt, an ninh mạng, công nghệ lượng tử và tác chiến điện tử”. Bằng cách gắn kết thế trận quốc phòng số, thế trận an ninh số với “thế trận lòng dân” vững chắc, Việt Nam không chỉ từng bước làm chủ thiết kế, chế tạo vũ khí công nghệ cao mà còn biến công nghiệp quốc phòng, an ninh thành một động lực kinh tế bứt phá.
5.3. Đối ngoại kiến tạo: Nâng tầm vị thế và định hình chuẩn mực toàn cầu
Nếu như quốc phòng, an ninh là lá chắn, thì đối ngoại và hội nhập quốc tế chính là ngọn giáo mở đường, thu hút nguồn lực và nâng tầm vị thế quốc gia. Mô hình phát triển mới yêu cầu chuyển dịch trạng thái ngoại giao từ chủ động hội nhập sang “mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc và kiến tạo phát triển”. Ngoại giao kinh tế tiếp tục được khẳng định là trọng tâm, song song với việc triển khai đồng bộ, hiệu quả “ngoại giao về công nghệ, số, văn hoá, môi trường và khí hậu”.
Việt Nam tầm nhìn 2035 – 2045 không chỉ là một quốc gia tuân thủ các luật chơi quốc tế, mà thông qua nền ngoại giao đa phương hiện đại, chúng ta đang khát vọng vươn lên “tham gia định hình chuẩn mực quốc tế mới về kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, tài chính xanh, an ninh mạng và chuỗi cung ứng”. Thể chế quản trị quốc gia sẽ áp dụng các cơ chế đặc thù, vượt trội để thu hút các tập đoàn đa quốc gia, tổ chức nghiên cứu và nhân tài toàn cầu, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong “ngoại giao tri thức, công nghệ và số”. Sự đan xen lợi ích chiến lược với các nước lớn và chủ động quản trị rủi ro phụ thuộc chiến lược chính là nghệ thuật ngoại giao đặc sắc, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định để đất nước cất cánh.
6. Kết luận
Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV không chỉ đơn thuần là một văn kiện chính trị định hướng, mà thực sự là một bản thiết kế vĩ đại, một cương lĩnh hành động cho hành trình vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới. Quá trình đổi mới toàn diện mô hình phát triển được vận hành chặt chẽ theo cơ chế cốt lõi: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Trong đó, tính tất yếu của việc chuyển đổi sang “Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập” vào năm 2035 sẽ là tiền đề vật chất, thể chế vững chắc để Việt Nam hiên ngang tiến bước thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Xa hơn nữa, nó xác lập nền móng vững chãi cho tầm nhìn 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa đất nước ta trở thành “quốc gia XHCN phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn” vào năm 2130.
Tuy nhiên, từ tư tưởng chiến lược đến hiện thực sinh động là một chặng đường đầy cam go, thử thách. Thành bại của khát vọng “tăng trưởng 2 con số” và mục tiêu 2045 phụ thuộc mang tính quyết định vào việc thiết lập thành công một nền quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, minh bạch, cùng những đột phá sắc bén về mặt thể chế pháp luật. Nhà nước phải thực sự làm tốt vai trò “kiến tạo, dẫn dắt phát triển”, trao quyền tự chủ tối đa và chấp nhận rủi ro để đổi mới sáng tạo nảy mầm. Chỉ khi thể chế pháp luật được “cởi trói”, chuyển từ quản lý hành chính cứng nhắc sang quản trị hệ sinh thái phát triển, chúng ta mới có thể giải phóng triệt để mọi nguồn lực xã hội, đánh thức trí tuệ và thổi bùng khát vọng cống hiến mãnh liệt của toàn dân, đưa con tàu Việt Nam rẽ sóng tiến vào kỷ nguyên thịnh vượng, hạnh phúc và vinh quang.
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN. (2022). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN. (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN. (2022). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN. (2023). Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN. (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Đảng CSVN. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng CSVN. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I, Tập II). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng CSVN. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội. (2018). Luật Quốc phòng (Luật số 22/2018/QH14).
Quốc hội. (2020). Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 72/2020/QH14). (Tham chiếu quy định về thị trường tín chỉ carbon, trái phiếu xanh và định giá carbon).
Quốc hội. (2024). Luật Thủ đô (Luật số 39/2024/QH15). (Tham chiếu quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát – sandbox).
Nguồn: LÊ HÙNG & CAO THỊ THU TRANG – Tạp chí Điện tử Luật sư Việt Nam






Để lại một bình luận