Kiểm soát quyền lực và giải phóng sức sáng tạo: Mối quan hệ biện chứng trong thực thi công vụ theo tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW

Bài viết phân tích mối quan hệ biện chứng giữa yêu cầu siết chặt kỷ luật, kỷ cương Đảng và nhiệm vụ kiến tạo môi trường bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo. Thông qua lăng kính của phương pháp Hồ Chí Minh và định hướng từ Chỉ thị số 07-CT/TW, nghiên cứu đề xuất các giải pháp thể chế và công nghệ nhằm xóa bỏ hội chứng “né tránh trách nhiệm”, từ đó chuyển hóa tinh thần đạo đức thành năng lực quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới.

1. Đặt vấn đề

Tháng 7 năm 2026 đánh dấu một bối cảnh chính trị – xã hội mang tính bước ngoặt lịch sử, thời điểm Việt Nam chính thức chuyển mình bước vào một “giai đoạn phát triển mới” mang tính chiến lược. Đây là thời khắc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang dồn mọi nguồn lực và tâm huyết để nỗ lực đưa các chủ trương, đường lối kiến tạo từ Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào đời sống thực tiễn. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc hướng tới các cột mốc lịch sử vĩ đại năm 2030 và 2045 không chỉ đòi hỏi một tầm nhìn vĩ mô xuất chúng, mà còn đặt ra yêu cầu cấp bách về việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức vươn tầm gánh vác sứ mệnh dân tộc. Nhìn lại một chặng đường dài, đặc biệt là qua 10 năm kiên trì thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW (2016 – 2026) của Bộ Chính trị, hệ thống chính trị nước ta đã gặt hái được nhiều kết quả quan trọng, mang tính nền tảng vững chắc. Công tác giáo dục tư tưởng chính trị đã góp phần ngăn ngừa có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cũng như những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, qua đó củng cố sâu sắc niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Mặc dù vậy, theo quy luật của phép biện chứng duy vật, sự vận động không ngừng của thực tiễn luôn bao hàm những mâu thuẫn nội tại cần được nhận diện và tháo gỡ kịp thời. Bước vào giữa năm 2026, thực tiễn sinh động của nền hành chính công đã làm nảy sinh một nghịch lý gay gắt: trong khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và công cuộc hội nhập quốc tế toàn diện đòi hỏi yêu cầu kiến tạo, bứt phá của kỷ nguyên mới, thì quá trình vận hành của bộ máy lại đang vấp phải lực cản khổng lồ từ tâm lý đùn đẩy, né tránh trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đánh giá một cách khách quan và nghiêm khắc, ở một số nơi, việc học tập và làm theo Bác vẫn còn nặng tính hình thức, thiếu chiều sâu, chưa chú trọng đúng mức đến việc thực hành và vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh vào giải quyết công việc. Sự thiếu hụt này dẫn đến hệ quả tất yếu là “chưa tạo được chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động”. Trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đặc biệt là những người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, chưa thực sự gắn liền với việc dấn thân giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của Nhân dân.

Dưới lăng kính của Khoa học chính trị và Tâm lý học quản lý, căn bệnh “đùn đẩy trách nhiệm” này không chỉ đơn thuần là sự sa sút về ý chí chiến đấu của một vài cá nhân, mà nó đã trở thành một “quán tính quan liêu” mang tính cấu trúc. Hội chứng “sợ sai”, thà lựa chọn sự an toàn bằng cách đứng im để bảo toàn vị trí chính trị thay vì hành động đột phá nhưng phải đối mặt với rủi ro pháp lý, đang làm suy yếu nghiêm trọng động năng phát triển của quốc gia. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này xuất phát từ những khoảng trống trong cơ chế quản trị công và thể chế pháp luật hiện hành, nơi ranh giới giữa sự đổi mới, sáng tạo mang tính đột phá vì lợi ích chung và hành vi cố ý làm trái chưa được minh định một cách rạch ròi bằng một “tấm khiên” pháp lý vững chắc. Thêm vào đó, thực tế cho thấy “công tác kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có lúc, có nơi chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt; hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế; cơ chế ràng buộc trách nhiệm và tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện còn thiếu cụ thể”. Khi cơ chế chưa đồng bộ, những biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung chậm được khắc phục, trở thành một căn bệnh trầm kha đe dọa trực tiếp đến tính hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước.

Để giải quyết triệt để điểm nghẽn mang tính hệ thống này, tư duy lãnh đạo quản lý cần một sự chuyển trục mạnh mẽ. Việc học tập và thực hành theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không thể chỉ dừng lại ở phương diện giáo dục đạo đức thuần túy hay những lời kêu gọi tinh thần cống hiến trừu tượng, mà phải được nâng tầm thành một chiến lược hành động cụ thể. Chiến lược đó chính là nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc kiểm soát quyền lực nghiêm minh và giải phóng tối đa sức sáng tạo của bộ máy công quyền. Đáp ứng đòi hỏi cấp bách mang tính lịch sử đó, ngày 13 tháng 7 năm 2026, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Đây là một văn kiện mang tính đột phá về lý luận và thực tiễn, đặt ra định hướng “chuyển mạnh việc kiểm tra, giám sát xây dựng kế hoạch, đăng ký sang kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, hiệu quả giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc”. Đồng thời, Chỉ thị định hình rõ một thông điệp cốt lõi: đạo đức công vụ phải gắn liền với bản lĩnh và tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; và hệ thống chính trị phải nhanh chóng “thể chế hoá các quy định pháp luật, tạo cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo”.

Từ những luận cứ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nền tảng thực tiễn sâu sắc nêu trên, bài viết đi sâu phân tích chủ đề: “Kiểm soát quyền lực và giải phóng sức sáng tạo: Mối quan hệ biện chứng trong thực thi công vụ theo tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW”. Trọng tâm cốt lõi của nghiên cứu là vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa khoa học Tư tưởng Hồ Chí Minh và khoa học Chính trị học để mổ xẻ tận gốc rễ tâm lý né tránh trách nhiệm, qua đó luận giải tính tất yếu khách quan của việc kiến tạo một hành lang pháp lý đồng bộ, nghiêm minh, khả thi. Nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc làm rõ giá trị thời đại của “phương pháp Hồ Chí Minh” trong rèn luyện bản lĩnh đổi mới, mà còn đề xuất hệ thống các giải pháp đột phá nhằm chuẩn hóa tiêu chí đạo đức công vụ, đổi mới phương thức đánh giá cán bộ thông qua ứng dụng công nghệ số. Chỉ khi mối quan hệ biện chứng giữa việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương (kiểm soát quyền lực) và việc kiến tạo môi trường an toàn, linh hoạt (giải phóng sức sáng tạo) được hiện thực hóa bằng thiết chế pháp luật, hệ thống chính trị nước ta mới thực sự khơi thông được các nguồn lực, tạo ra sức đẩy vĩ đại đưa công cuộc đổi mới thẳng tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

2. Nhận diện sự đứt gãy giữa “Kiểm soát” và “Kiến tạo” trong công vụ hiện nay

Bước vào nửa cuối năm 2026, thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực đưa các quyết sách chiến lược của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV vào đời sống thực tiễn, nền hành chính nhà nước đang phải đối diện với một mâu thuẫn biện chứng mang tính quy luật. Quá trình làm trong sạch bộ máy thông qua công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một tất yếu khách quan, mang tính sống còn để bảo vệ chế độ và củng cố niềm tin của Nhân dân. Tuy nhiên, dưới lăng kính của khoa học tổ chức và quản trị công hiện đại, những khoảng trống, sự thiếu đồng bộ trong cơ chế quản trị – đặc biệt là sự chậm trễ trong việc kiến tạo hành lang pháp lý bảo vệ sự đổi mới – đã vô tình tạo ra một “hội chứng tâm lý tiêu cực” lan rộng, gây ra sự đứt gãy nghiêm trọng giữa lằn ranh “kiểm soát quyền lực” và “kiến tạo phát triển”. Căn bệnh này bộc lộ qua ba chiều cạnh phức tạp sau:

Thứ nhất, tâm lý phòng thủ và hội chứng sợ rủi ro pháp lý mang tính dây chuyền.

Sự đứt gãy rõ nét nhất hiện nay nằm ở việc nhiều cán bộ, đảng viên, thậm chí cả những người đứng đầu cơ quan, đơn vị, đang mang nặng tâm lý “sợ sai”, “làm ít sai ít, không làm không sai”. Dưới áp lực của việc siết chặt kỷ cương, khi ranh giới pháp lý giữa hành vi “đổi mới, sáng tạo mang tính đột phá vì lợi ích chung” và “hành vi cố ý làm trái” chưa được định hình rõ nét, lực lượng thực thi công vụ có xu hướng rơi vào trạng thái phòng thủ thụ động. Họ lựa chọn sự an toàn, thà đứng im để bảo toàn vị trí chính trị và sinh mệnh cá nhân thay vì đưa ra các quyết định đột phá để giải quyết những điểm nghẽn của nền kinh tế. Dưới góc độ quản lý nhà nước, hiện tượng này biến tướng thành thói quen lạm dụng quy trình hành chính, đặc biệt là việc lạm dụng cơ chế lấy ý kiến hiệp thương. Các văn bản, hồ sơ thay vì được giải quyết dứt điểm theo đúng thẩm quyền lại bị “đẩy chạy vòng quanh” giữa các sở, ban, ngành và cơ quan trung ương nhằm mục đích đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm ra quyết định cuối cùng. Tình trạng này đã được Bộ Chính trị chỉ rõ: “biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung chậm được khắc phục”. Hậu quả là làm suy giảm nghiêm trọng xung lực phát triển, đình trệ giải ngân vốn đầu tư, bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển quý giá của quốc gia trong kỷ nguyên hội nhập.

Thứ hai, sự hời hợt và biến tướng của bệnh hình thức trong tu dưỡng, rèn luyện.

Mặc dù công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã được triển khai nhiều năm, song ở một số nơi, sự thẩm thấu những giá trị cốt lõi từ Di sản Hồ Chí Minh vào thực tiễn công vụ vẫn còn rất hạn chế. Việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhiều lúc thiếu chiều sâu, chủ yếu chạy theo căn bệnh thành tích, đong đếm bằng số lượng các buổi học tập, quán triệt nghị quyết hoặc các bản báo cáo, cam kết tu dưỡng trên giấy tờ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi bệnh hình thức là một biến tướng tinh vi của chủ nghĩa cá nhân. Khi việc học tập chỉ dừng ở bề nổi, thiếu sự vận dụng phương pháp làm việc dân chủ, bám sát thực tiễn của Người, nó sẽ không thể tạo ra sự chuyển biến thực chất trong hành động. Đánh giá về thực trạng này, Chỉ thị số 07-CT/TW nhấn mạnh: “Ở một số nơi, việc học tập và làm theo Bác còn hình thức, thiếu chiều sâu, chưa chú trọng đúng mức việc thực hành, vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh; chưa tạo được chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động”. Sự hời hợt này khiến cho trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu bị lu mờ, không gắn kết được với việc giải quyết triệt để những vấn đề nổi cộm, bức xúc của Nhân dân, làm suy giảm niềm tin của quần chúng vào năng lực kiến tạo của bộ máy nhà nước.

Thứ ba, khoảng trống cấu trúc trong công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ.

Một nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hội chứng “phòng thủ” là sự bất cập trong hệ thống tiêu chí đánh giá và cơ chế ràng buộc trách nhiệm. Hiện nay, cơ chế đánh giá kết quả thực thi công vụ vẫn còn mang tính định tính, chung chung, cào bằng, thiếu các bộ tiêu chí định lượng (KPIs) khoa học để phân định rạch ròi giữa cán bộ năng động, dám nghĩ dám làm và cán bộ trì trệ, “vô cảm” khéo ẩn nấp dưới vỏ bọc an toàn. Thêm vào đó, chức năng kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng có lúc, có nơi chưa thực sự đồng hành cùng tiến trình kiến tạo. Như Bộ Chính trị đã nhận định, “Công tác kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có lúc, có nơi chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt; hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế; cơ chế ràng buộc trách nhiệm và tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện còn thiếu cụ thể”. Sự lệch pha giữa một bên là công cụ kiểm tra sắc bén nhưng chủ yếu hướng tới xử lý vi phạm khi hậu quả đã xảy ra, và một bên là thiếu hụt cơ chế bảo vệ sự sáng tạo, đã triệt tiêu động lực cống hiến của những hạt nhân ưu tú trong hệ thống chính trị.

3. Phương pháp Hồ Chí Minh: Tiền đề lý luận để giải quyết mâu thuẫn giữa kiểm soát và kiến tạo

Để tháo gỡ điểm nghẽn mang tính hệ thống nêu trên, không thể chỉ sử dụng các biện pháp hành chính đơn thuần mà cần một nền tảng triết học thực tiễn đủ tầm vóc. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng đỉnh cao, sáng tạo phép biện chứng duy vật vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Phương pháp ấy không giáo điều, không xơ cứng, mà luôn lấy sự vận động không ngừng của thực tiễn làm tiêu chuẩn cao nhất của chân lý, lấy lợi ích tối thượng của Nhân dân làm lăng kính để phân tích, hoạch định chính sách.

Trong bối cảnh mới của năm 2026, tinh thần của Chỉ thị số 07-CT/TW đã chỉ rõ sự chuyển trục chiến lược: việc học tập và thực hành theo Bác phải chuyển mạnh từ nhận thức thuần túy sang thực hành thường xuyên, tự giác; trong đó cốt lõi là rèn luyện bản lĩnh và tư duy đổi mới. Bản lĩnh đổi mới sáng tạo theo phương pháp Hồ Chí Minh không phải là sự liều lĩnh bột phát, mà được cấu thành từ một chuỗi hành động biện chứng, có logic nội tại vô cùng chặt chẽ:

Thứ nhất, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm: Đột phá tư duy và bản lĩnh hành động.

Sự khởi nguồn của mọi sự kiến tạo bắt đầu từ năng lực “dám nghĩ” – tức là khả năng vượt qua tư duy lối mòn, giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa để nhận diện đúng quy luật khách quan và phác thảo tầm nhìn mới. Tuy nhiên, suy nghĩ nếu không chuyển hóa thành hành động thì chỉ là lý luận suông. “Dám làm” là bước nhảy vọt về chất, đòi hỏi dũng khí chính trị to lớn của người cán bộ lãnh đạo, quản lý để sẵn sàng đối diện, phá vỡ lực cản của quán tính quan liêu và sự bủa vây của các nhóm lợi ích cục bộ. Hơn thế nữa, để sự sáng tạo không rơi vào tình trạng vô chính phủ, nó phải được neo giữ bởi ý thức “dám chịu trách nhiệm”. Người cán bộ phải sẵn sàng giải trình minh bạch trước Đảng và Nhân dân về quyết sách của mình. Tinh thần này đã được định danh rõ trong văn kiện của Đảng: “Học tập, thực hành theo Bác, trước hết là về bản lĩnh và tư duy đổi mới: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; tập trung tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt…”.

Thứ hai, dám đương đầu khó khăn và hành động vì lợi ích chung: Lằn ranh định vị đạo đức công vụ

Trong kỷ nguyên phát triển vươn mình của dân tộc, thực tiễn quản lý nhà nước chứa đựng muôn vàn biến số phức tạp, đan xen giữa rủi ro và cơ hội. Đòi hỏi cấp bách là đội ngũ cán bộ phải “dám đương đầu khó khăn, thử thách”. Tuy nhiên, mấu chốt để phân định rạch ròi, dứt khoát giữa một bên là bản lĩnh đổi mới sáng tạo thực thụ với một bên là hành vi “tự tung tự tác”, “vượt rào” hòng trục lợi cá nhân, lợi ích nhóm, chính là yếu tố “vì lợi ích chung”. “Vì lợi ích chung” vừa là chuẩn mực đạo đức tối cao của người cộng sản (chí công vô tư), vừa là “lằn ranh đỏ” về mặt pháp lý để Nhà nước thiết kế cơ chế bảo vệ cán bộ. Khi mọi quyết sách đột phá đều xuất phát từ động cơ trong sáng, phục vụ đắc lực cho quyền lợi của Nhân dân và quốc gia, thì người cán bộ ấy hoàn toàn xứng đáng được hệ thống thể chế bảo vệ tuyệt đối trước những rủi ro khách quan.

Sự khác biệt căn bản giữa mô hình công vụ cũ (mang nặng quán tính quan liêu) và mô hình công vụ kiến tạo mới (được định hình bởi tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW) có thể được nhận diện rõ nét qua bảng phân tích dưới đây:

Bảng 1. So sánh mô hình đánh giá công vụ trước và sau khi thực hành triệt để Chỉ thị 07-CT/TW:

Kiểm soát quyền lực và giải phóng sức sáng tạo: Mối quan hệ biện chứng trong thực thi công vụ theo tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW - 2

Thông qua bảng phân tích trên, có thể thấy rõ, phương pháp Hồ Chí Minh khi được thể chế hóa thành các quy định của Đảng (như Chỉ thị 07-CT/TW) không chỉ là kim chỉ nam về tư tưởng, mà đã trở thành công cụ quản trị nhà nước khoa học, hiện đại. Nó giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa “kiểm soát” và “kiến tạo”, chứng minh rằng sự kiểm soát nghiêm minh, kỷ luật Đảng không hề mâu thuẫn, mà ngược lại, chính là tiền đề vững chắc để giải phóng sức sáng tạo vô tận của một nền hành chính liêm chính, phục vụ.

4. Giải pháp đột phá: Từ nêu gương đến kiến tạo hành lang pháp lý

Dưới lăng kính của phép biện chứng duy vật và khoa học tổ chức nhà nước, “kiểm soát quyền lực” và “giải phóng sức sáng tạo” không phải là hai phạm trù loại trừ nhau, mà là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất trong nền quản trị quốc gia hiện đại. Nếu kiểm soát quyền lực nhằm ngăn chặn sự tha hóa, bảo đảm tính liêm chính của bộ máy, thì giải phóng sức sáng tạo chính là khơi thông nguồn năng lượng nội sinh để bứt phá. Để giải quyết triệt để bài toán “kép” này, đưa nền hành chính công thoát khỏi lực cản của tâm lý phòng thủ và hội chứng đùn đẩy trách nhiệm, hệ thống chính trị cần thực thi đồng bộ, quyết liệt một hệ sinh thái các giải pháp đột phá, trải dài từ phương thức lãnh đạo mang tính văn hóa, đạo đức cho đến các công cụ thể chế, pháp lý cứng rắn.

4.1. Thể chế hóa cơ chế bảo vệ cán bộ bằng pháp luật: Biến tinh thần đạo đức thành sức mạnh nhà nước

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước pháp quyền, mọi chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng nếu chỉ dừng lại ở các cuộc vận động đạo đức thì chưa đủ sức mạnh cưỡng chế và bảo vệ; chúng bắt buộc phải được “vật chất hóa” thông qua hệ thống pháp luật. Sự đột phá cốt lõi trong tư duy quản trị nhà nước giai đoạn phát triển mới chính là sự chuyển dịch từ việc kêu gọi tinh thần cống hiến sang việc tạo lập các thiết chế pháp lý vững chắc.

Trách nhiệm của cơ quan lập pháp: Quán triệt tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW, “Đảng uỷ Quốc hội thể chế hoá kịp thời, đồng bộ các quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của Chỉ thị vào hệ thống pháp luật; thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ, nghiêm minh, khả thi để tăng cường giám sát tối cao đối với việc tuân thủ pháp luật, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình”. Cụ thể, Quốc hội cần chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung các đạo luật trọng yếu (như Luật Cán bộ, công chức; Luật Đầu tư; Luật Đất đai; Luật Đấu thầu) nhằm bít các “lỗ hổng” gây ra sự chồng chéo, xung đột pháp luật. Một hành lang pháp lý đồng bộ sẽ xóa bỏ những “bẫy rủi ro vô hình”, giúp phân định rạch ròi, minh bạch giữa ranh giới của sự đổi mới, đột phá vì lợi ích chung và hành vi cố ý làm trái để trục lợi cá nhân, từ đó loại bỏ căn nguyên pháp lý của tâm lý “sợ sai”.

Trách nhiệm của cơ quan hành pháp: Ở khía cạnh tổ chức thực thi, “Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá các quan điểm, yêu cầu của Chỉ thị trong chính sách, pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước; rà soát, bãi bỏ các thủ tục hành chính chồng chéo, mâu thuẫn để khơi thông điểm nghẽn thể chế”. Chính phủ cần nâng tầm các cơ chế bảo vệ từ các Nghị định (như Nghị định 73/2023/NĐ-CP) thành các quy phạm pháp luật có tính pháp lý cao hơn, “tạo cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung”. Đặc biệt, cần thiết lập quy trình bảo vệ liên ngành, đảm bảo rằng khi một cán bộ thực hiện quyết sách đột phá vì cái chung, không tư lợi, họ sẽ được bảo vệ một cách thực chất và xuyên suốt từ khâu thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý hành chính đến các khâu điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

4.2. Biến trách nhiệm nêu gương thành phương thức lãnh đạo mang tính chuẩn mực và chế tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết một chân lý giản dị nhưng vô cùng sâu sắc về tâm lý học quản lý: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Bước vào giai đoạn sau Đại hội XIV, nêu gương không còn là một khái niệm đạo đức mang tính khuyến khích trừu tượng, mà theo định hướng của Bộ Chính trị, “Nêu gương phải trở thành phương thức lãnh đạo quan trọng; lấy sự nêu gương để tạo uy tín, lan toả trách nhiệm, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và hệ thống chính trị”.

Chuẩn hóa tiêu chí đánh giá cán bộ dựa trên năng lực kiến tạo: Việc nêu gương phải được cụ thể hoá thành các bộ tiêu chí định lượng (KPIs) khắt khe trong công tác cán bộ. Chỉ thị 07-CT/TW đã chỉ rõ ba nhóm nội dung trọng tâm: “Bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới và năng lực tổ chức thực hiện; Đạo đức công vụ và kỷ luật thực thi; Tinh thần phục vụ Nhân dân”. Trong đó, năng lực “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” được đặt ở vị trí trung tâm. Người lãnh đạo đứng đầu phải là hiện thân của sự dấn thân, trực tiếp lội vào những “điểm nóng” và “nút thắt” thể chế của địa phương, đơn vị để giải quyết vấn đề, từ đó tạo ra môi trường tâm lý an toàn, truyền cảm hứng và phá vỡ sức ỳ của toàn hệ thống.

Kiên quyết thanh lọc và xây dựng văn hóa từ chức: Một hệ thống công vụ khỏe mạnh, kiến tạo phải là một hệ thống có khả năng tự thanh lọc và đào thải liên tục. Đi đôi với việc bảo vệ, tôn vinh người đổi mới, cần thiết lập các chế tài xử lý nghiêm khắc. Cần “kịp thời thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám quyết, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”. Sự thay thế này phải được vận hành trơn tru, linh hoạt, trở thành một chế định văn hóa chính trị bình thường (như văn hóa từ chức, miễn nhiệm khi không hoàn thành sứ mệnh kiến tạo), nhằm nhường không gian phát triển cho những nhân tố mới có đủ “Tâm” và “Tầm”.

4.3. Chuyển đổi số và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát quyền lực

Năm 2026, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang định hình lại cấu trúc của các chính phủ toàn cầu, việc kiểm soát quyền lực và đánh giá cán bộ không thể tiếp tục duy trì theo các phương pháp thủ công, truyền thống. Lời giải cho bài toán minh bạch hóa nền công vụ nằm ở tiến trình chuyển đổi số toàn diện.

Số hóa học liệu và công tác giáo dục chính trị: Chỉ thị 07-CT/TW yêu cầu “ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng hệ thống dữ liệu, học liệu số về học tập, thực hành theo Bác”. Việc áp dụng công nghệ số và AI vào giảng dạy lý luận chính trị giúp cá nhân hóa lộ trình học tập, đảm bảo nội dung ngắn gọn, thiết thực, “dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá”.

Thiết lập công cụ giám sát thời gian thực: Để triệt tiêu mầm mống của căn bệnh hình thức và thói quan liêu, hệ thống chính trị phải số hóa toàn bộ quy trình giải quyết hồ sơ công việc. Việc ứng dụng Dữ liệu lớn (Big Data) và lưu vết kỹ thuật số (digital footprints) giúp minh bạch hóa dòng chảy của văn bản. Khi tiến độ xử lý hồ sơ được hiển thị theo thời gian thực trên các nền tảng chính phủ điện tử, những hành vi “ngâm hồ sơ”, “đẩy văn bản chạy vòng quanh” để đùn đẩy trách nhiệm sẽ bị hệ thống AI cảnh báo và phơi bày ngay lập tức.

Phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân qua không gian số: Cốt lõi của phương pháp Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc. Việc “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, công khai, minh bạch thông tin để Nhân dân và doanh nghiệp giám sát hoạt động công vụ theo quy định” là biện pháp hữu hiệu nhất để kiểm soát quyền lực. Bằng cách “thiết lập các cơ chế phản hồi số để tiếp nhận, xử lý thông tin trực tiếp từ Nhân dân”, Đảng và Nhà nước trao cho người dân một công cụ sắc bén để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ. Thước đo cao nhất của sự đổi mới, sáng tạo không nằm ở những bản báo cáo thành tích bóng bẩy, mà chính là “sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp”.

5. Kết luận

Nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử và bối cảnh thực tiễn của Việt Nam khi chính thức bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV (2026 – 2031), việc đưa công tác học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đi vào chiều sâu thực chất là một sứ mệnh mang tính thời đại. Nghiên cứu dưới góc độ liên ngành giữa Khoa học Chính trị, Hành chính công và Tư tưởng Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ một luận điểm cốt lõi: Việc xóa bỏ triệt để hội chứng “né tránh, đùn đẩy trách nhiệm” không thể chỉ trông chờ vào những mệnh lệnh hành chính thuần túy hay các đợt sinh hoạt tư tưởng bề nổi. Nó đòi hỏi một chiến lược quản trị quốc gia toàn diện, biện chứng và sâu sắc.

Trong chiến lược ấy, đạo đức cách mạng, bản lĩnh đổi mới và phương pháp làm việc “dĩ công vi thượng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đóng vai trò là kim chỉ nam định hướng tư duy; trong khi đó, một hệ thống thể chế pháp luật minh bạch, đồng bộ, được trợ lực bởi công nghệ số, chính là cỗ máy vĩ đại và tấm khiên bảo vệ vững chắc nhất. Việc kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa “đức trị” (thông qua nêu gương, tu dưỡng) và “pháp trị” (thông qua kiểm soát quyền lực và cơ chế bảo vệ bằng pháp luật) chính là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn nội tại của nền hành chính hiện nay.

Một nhà nước kiến tạo, phục vụ không thể được vận hành bởi một đội ngũ cán bộ mang nặng tâm lý sợ hãi, phòng thủ. Khi và chỉ khi hành lang pháp lý được thiết lập đồng bộ, bao quát; ranh giới giữa sáng tạo và vi phạm được phân định rạch ròi; và sự giám sát được thực thi minh bạch thông qua nền tảng kỹ thuật số, thì hệ thống chính trị mới phá vỡ được lớp băng của sự trì trệ. Việc thực hành triệt để Chỉ thị số 07-CT/TW sẽ khơi dậy mạnh mẽ “khát vọng phát triển, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”, qua đó giải phóng sức sáng tạo vô tận của bộ máy nhà nước. Đó chính là cội nguồn sức mạnh, là đòn bẩy vững chắc nhất đưa con tàu quốc gia bứt tốc, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tài liệu tham khảo

  1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2024). Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Ban Chấp hành Trung ương.
  2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Hà Nội.
  3. Bộ Chính trị. (2021). Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Ban Chấp hành Trung ương.
  4. Chính phủ. (2023). Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Chính phủ.
  5. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1, Tập 2). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  6. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 5). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  7. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. (2021). Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (Dành cho hệ Cử nhân Lý luận chính trị). Nhà xuất bản Lý luận chính trị.
  8. Nguyễn Phú Trọng (2023). Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Theo: ThS. NGUYỄN THỊ QUYẾN & LÊ HÙNG (Học viện Chính trị khu vực I.)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan