Pháp luật về kiểm soát chất thải rắn trong lĩnh vực công nghiệp

Xây dựng và từng bước hoàn thiện pháp luật về kiểm soát chất thải rắn trong lĩnh vực công nghiệp là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển bền vững, trong đó bảo vệ môi trường giữ vai trò thiết yếu. Đây là quá trình phức tạp, đặt ra đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Định hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát chất thải rắn trong lĩnh vực công nghiệp ở mỗi quốc gia có thể khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm phát triển, điều kiện kinh tế – xã hội và yêu cầu quản lý đối với hoạt động phát sinh, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý và thải bỏ chất thải rắn công nghiệp.

1. Đặt vấn đề

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam gắn liền với sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp, khu kinh tế và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làm gia tăng đáng kể lượng chất thải rắn công nghiệp. Hiện cả nước có khoảng 563 khu công nghiệp trong quy hoạch tại 61 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố; trong đó có 397 khu công nghiệp đã được thành lập, 292 khu công nghiệp đang hoạt động và 106 khu công nghiệp đang xây dựng [1]. Sự gia tăng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường kiểm soát chất thải rắn nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường và bảo đảm phát triển bền vững.

Chất thải rắn thông thường trong lĩnh vực công nghiệp là loại chất thải phát sinh phổ biến trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Việc phân loại, lưu giữ, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý loại chất thải này là nội dung trọng tâm của công tác quản lý môi trường, đồng thời là đối tượng điều chỉnh quan trọng của pháp luật.

Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, pháp luật Việt Nam từng bước hoàn thiện các quy định về kiểm soát chất thải rắn trong lĩnh vực công nghiệp, trong đó Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung và hoàn thiện nhiều quy định về phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn công nghiệp, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế như việc phân loại chất thải tại nguồn chưa hiệu quả, lượng chất thải tồn đọng còn lớn và một số quy định chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn.

Quy định về xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát chất thải rắn trong lĩnh vực công nghiệp và những vấn đề pháp lý đặt ra

Kiểm soát chất thải rắn thông thường phát sinh trong lĩnh vực công nghiệp là một nội dung trọng yếu của hoạt động bảo vệ môi trường, bởi hiệu quả của công tác này có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo đảm mục tiêu bảo vệ môi trường nói chung. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện một cách căn bản các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý chất thải rắn thông thường trong lĩnh vực công nghiệp so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Về kỹ thuật lập pháp, những điểm mới này thể hiện tư duy tiến bộ của nhà làm luật trong việc kịp thời điều chỉnh, bổ sung quy định nhằm thích ứng với sự thay đổi của thực tiễn kinh tế – xã hội, đặc biệt là yêu cầu bảo vệ môi trường trong quản lý chất thải rắn thông thường phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp.

Thứ nhất, mở rộng phạm vi điều chỉnh của chương quản lý chất thải theo hướng bổ sung nội dung kiểm soát các chất gây ô nhiễm khác

So với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã thay đổi cách xác định phạm vi điều chỉnh của chương quy định về quản lý chất thải. Nếu như Chương IX Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chỉ giới hạn ở thuật ngữ “quản lý chất thải” thì đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, tên gọi của chương tương ứng đã được mở rộng thành “quản lý chất thải và kiểm soát các chất gây ô nhiễm khác”. Sự điều chỉnh này cho thấy phạm vi quản lý của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 không còn giới hạn ở hoạt động quản lý chất thải mà đã được mở rộng sang cả hoạt động kiểm soát các chất gây ô nhiễm khác. Việc bổ sung này có ý nghĩa cần thiết, tạo cơ sở để hoạt động quản lý chất thải rắn công nghiệp được thực hiện toàn diện hơn, hạn chế tối đa nguy cơ bỏ sót các nguồn ô nhiễm có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường [2].

Thứ hai, quy định trách nhiệm quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường theo hướng linh hoạt về phương thức thực hiện

Khác với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 – vốn chỉ quy định trách nhiệm cụ thể của chủ nguồn thải đối với từng loại chất thải riêng biệt (trách nhiệm đối với chất thải nguy hại tại Điều 90, Điều 91; trách nhiệm đối với chất thải rắn thông thường tại Điều 95, Điều 97) mà không đặt ra yêu cầu chung thống nhất – Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã xây dựng một khung yêu cầu chung đối với hoạt động quản lý chất thải, trong đó xác định rõ trách nhiệm của chủ nguồn thải và các chủ thể có liên quan. Cụ thể:

Đối với chủ nguồn thải, pháp luật quy định chủ nguồn thải chất thải rắn công nghiệp thông thường có trách nhiệm tự thực hiện việc tái sử dụng, tái chế, xử lý và thu hồi năng lượng từ chất thải, hoặc chuyển giao cho cơ sở có chức năng và giấy phép môi trường phù hợp để thực hiện. Theo đó, chủ nguồn thải có hai phương thức lựa chọn để thực hiện trách nhiệm quản lý chất thải: tự mình quản lý trực tiếp hoặc quản lý gián tiếp thông qua việc chuyển giao cho chủ thể đủ điều kiện. Đây là quy định mang tính tùy nghi, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nguồn thải lựa chọn phương thức phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế của mình, với điều kiện việc lựa chọn đó không trái quy định pháp luật. Bên cạnh đó, chủ nguồn thải còn có trách nhiệm phân định chất thải nguy hại và chất thải rắn công nghiệp thông thường thông qua hoạt động lấy mẫu, phân tích mẫu do cơ sở có chức năng và đủ năng lực thực hiện theo quy định của pháp luật [3].

Đối với tổ chức, cá nhân thực hiện việc vận chuyển, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng quy định trách nhiệm theo hướng cho phép lựa chọn phương thức thực hiện. Tổ chức, cá nhân vận chuyển chất thải rắn công nghiệp thông thường có trách nhiệm vận chuyển chất thải đến cơ sở có chức năng và giấy phép môi trường phù hợp, hoặc chuyển giao cho tổ chức, cá nhân vận chuyển khác để tiếp tục vận chuyển đến cơ sở có chức năng và giấy phép môi trường phù hợp. Quy định theo hướng linh hoạt này là cần thiết, bởi việc trao quyền lựa chọn giữa tự thực hiện và chuyển giao trách nhiệm vận chuyển sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động vận chuyển chất thải trên thực tế [4].

Như vậy, nếu Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa tạo được sự đồng bộ trong quản lý chất thải do thiếu một khung yêu cầu chung, thì Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã khắc phục hạn chế này thông qua việc bổ sung các yêu cầu chung áp dụng cho cả chủ nguồn thải và các chủ thể có liên quan. Sự bổ sung đó khắc phục tính rời rạc trong cách quy định trước đây và tạo sự thống nhất trong xác định trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý chất thải, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát chất thải rắn công nghiệp và hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 và đến nay đã trải qua hơn bốn năm áp dụng trên thực tế, đồng thời tiếp tục được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của mười lăm luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2026) cùng các văn bản hướng dẫn thực hiện, trong đó có Nghị định số 08/2022/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP và Nghị định số 48/2026/NĐ-CP. Trên cơ sở quá trình thực hiện đó, có thể nhận diện một số hạn chế còn tồn tại như sau:

Thứ nhất, quy định “trách nhiệm” phân loại chất thải tại nguồn của chủ nguồn thải chưa bảo đảm tính răn đe cần thiết. Khoản 2 Điều 81 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 chỉ dừng lại ở việc xác định đây là “trách nhiệm” của chủ nguồn thải, cách quy định này có thể khiến chủ thể liên quan chưa thực sự coi trọng việc thực hiện. Tuy nhiên, điểm b khoản 2 Điều 26 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã đặt ra chế tài xử phạt đối với hành vi không phân loại chất thải rắn công nghiệp thông thường tại nguồn, qua đó có thể hiểu trách nhiệm phân loại tại nguồn  dừng lại ở tính chất khuyến khích mà đã trở thành nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với chủ nguồn thải.

Thứ hai, pháp luật chưa xác định rõ cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chủ cơ sở thực hiện báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình phát sinh và xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường. Giai đoạn xử lý là khâu cuối cùng, phản ánh trực tiếp kết quả và hiệu quả của toàn bộ quá trình quản lý chất thải, do đó cần có cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc xác định rõ chủ thể có quyền yêu cầu báo cáo  tạo cơ sở để đánh giá hiệu quả xử lý chất thải và giúp xác định chủ thể gây ô nhiễm và kịp thời áp dụng biện pháp xử lý phù hợp khi phát hiện sai phạm. Do đó, cần thiết phải hoàn thiện quy định về thủ tục và thẩm quyền liên quan đến hoạt động báo cáo tình hình phát sinh, xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường [5].

Thứ ba, một số quy định của Bộ luật Hình sự về xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật về chất thải còn mang tính định tính, gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Việc xác định các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan của người áp dụng pháp luật, dẫn đến khả năng tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau trên thực tế. Bên cạnh đó, mức hình phạt tiền hiện hành chưa tương xứng với thực tiễn vi phạm, chưa bảo đảm tính răn đe cần thiết, để lại khoảng trống trong công tác xử lý.

Thứ tư, pháp luật chưa có quy định cụ thể về khuyến khích, hướng dẫn chủ nguồn thải thực hiện kiểm toán môi trường. Kiểm toán môi trường không phải là hoạt động mới, mà đã được triển khai tại các cơ sở công nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau như rà soát môi trường, đánh giá tổng quan môi trường hay đánh giá tác động môi trường. Về bản chất, đây là quá trình thẩm tra có hệ thống nhằm thu thập và đánh giá khách quan các bằng chứng liên quan đến hoạt động quản lý môi trường của cơ sở, từ đó cung cấp thông tin phục vụ cho việc hoạch định phương hướng quản lý phù hợp ở các giai đoạn tiếp theo. Đối với lĩnh vực công nghiệp, kiểm toán chất thải là công cụ quản lý quan trọng, giúp kiểm tra quá trình phát sinh chất thải nhằm giảm thiểu nguồn và khối lượng chất thải, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cho cơ sở sản xuất. Với vai trò đó, kiểm toán chất thải có ý nghĩa thiết thực trong việc thực hiện yêu cầu đặt ra tại Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, do đó việc xây dựng quy định cụ thể về vấn đề này là cần thiết.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, sửa đổi cụm từ “có trách nhiệm” thành “thực hiện” tại khoản 2 Điều 81 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, cụ thể như sau: “Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, cơ quan, tổ chức phát sinh chất thải rắn công nghiệp thông thường thực hiện phân loại tại nguồn theo quy định tại khoản 1 Điều này”.

Việc sửa đổi này có ý nghĩa khẳng định rõ ràng nghĩa vụ pháp lý của chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, cơ quan, tổ chức phát sinh chất thải rắn công nghiệp thông thường trong việc thực hiện phân loại tại nguồn, qua đó giúp chủ thể áp dụng pháp luật nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ của mình và có hành vi tuân thủ phù hợp.

Thứ hai, nghiên cứu quy định trường hợp tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải rắn công nghiệp thông thường đạt đến một khối lượng nhất định phải thực hiện báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền. Ngưỡng khối lượng làm căn cứ phát sinh nghĩa vụ báo cáo cần được xác định trên cơ sở nghiên cứu chuyên môn của các nhà khoa học trong lĩnh vực môi trường, nhằm bảo đảm quy định vừa khả thi vừa phù hợp với thực tiễn phát sinh chất thải của các chủ thể. Quy định này sẽ giúp cơ quan có thẩm quyền quản lý được khối lượng chất thải rắn công nghiệp thông thường phát sinh trên thực tế, đồng thời kiểm soát hiệu quả quá trình xử lý loại chất thải này. Do phần lớn tổ chức, cá nhân phát sinh khối lượng chất thải không lớn, việc xác định ngưỡng báo cáo cần có sự nghiên cứu, đánh giá thận trọng của các chuyên gia trước khi ban hành.

Trường hợp tổ chức, cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo với cơ quan có thẩm quyền quản lý chất thải, pháp luật cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục thực hiện, bao gồm các nội dung: (i) chủ thể có thẩm quyền tiếp nhận báo cáo (Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường hoặc cơ quan chuyên môn tương ứng); (ii) thời hạn thực hiện báo cáo; (iii) thời hạn tiếp nhận và xử lý hồ sơ; (iv) trường hợp khối lượng chất thải rắn cần xử lý lớn mà tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải không có phương án xử lý phù hợp, kịp thời, thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm đề xuất phương án xử lý, hướng dẫn và hỗ trợ tổ chức, cá nhân thực hiện. Do khối lượng phát sinh từ nguồn thải này trên thực tế không lớn, thủ tục hành chính tương ứng cần được xây dựng theo hướng đơn giản, phù hợp, tránh gây tốn kém thời gian và ngân sách cho các bên liên quan.

Thứ ba, bổ sung quy định về quyền của cơ quan nhà nước trong việc yêu cầu chủ cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải rắn báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình phát sinh, xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường, phù hợp với quy định tại điểm c khoản 3 Điều 82 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

Theo đó, kiến nghị bổ sung khoản 5 Điều 82 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 với nội dung: “Sở Nông nghiệp và Môi trường có quyền yêu cầu chủ cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải rắn báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình phát sinh, xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường theo quy định của pháp luật”. Việc xác định cụ thể chủ thể có quyền yêu cầu báo cáo sẽ tạo cơ sở để cơ quan nhà nước quản lý, kiểm tra, kiểm soát quá trình xử lý chất thải rắn, xây dựng phương án xử lý phù hợp với thực tiễn, đồng thời giúp các chủ thể liên quan thực hiện trách nhiệm của mình một cách chủ động và có trách nhiệm hơn. Việc giao nhiệm vụ tiếp nhận báo cáo cho cơ quan chuyên môn về nông nghiệp và môi trường cấp tỉnh là phù hợp, do đây là cơ quan có đội ngũ công chức được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực môi trường, trong khi khối lượng và tính chất phức tạp của chất thải rắn công nghiệp thông thường đòi hỏi năng lực chuyên môn tương xứng để bảo đảm hiệu quả quản lý, kiểm soát.

Trên cơ sở đó, cần xây dựng quy định pháp luật về thủ tục, trình tự thực hiện tương ứng, bao gồm: (i) chủ thể có trách nhiệm thực hiện báo cáo (chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp); (ii) thời hạn thực hiện báo cáo; (iii) thời hạn tiếp nhận, xử lý hồ sơ; (iv) trường hợp không có phương án xử lý phù hợp, kịp thời thì cơ quan có thẩm quyền đề xuất phương án xử lý, hướng dẫn, hỗ trợ chủ cơ sở thực hiện. Đồng thời, cần ban hành quy định hướng dẫn cụ thể về hình thức và nội dung báo cáo mà chủ cơ sở phải thực hiện.

Thứ tư, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định định lượng tại Điều 235 Bộ luật Hình sự về tội “Gây ô nhiễm môi trường”. Trước đây, việc quy định các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng” mang tính định tính đã gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật do phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan. Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, theo hướng nâng mức phạt tiền và mở rộng khung hình phạt tù đối với hành vi vi phạm. Cụ thể, khung hình phạt tại khoản 1 hiện nay là phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 03 năm, thay vì mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm như quy định trước đây. Sự điều chỉnh này đã góp phần khắc phục hạn chế về tính răn đe của chế tài hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn công nghiệp.

Tuy nhiên, mức định lượng khối lượng chất thải rắn thông thường làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 235 (từ 100.000 kilôgam đến dưới 200.000 kilôgam) vẫn được giữ nguyên qua lần sửa đổi này. Trong bối cảnh hoạt động sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển và khối lượng chất thải rắn phát sinh có xu hướng gia tăng, cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tính phù hợp của ngưỡng định lượng nêu trên, bảo đảm chế tài hình sự phản ánh đúng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm trong điều kiện thực tiễn hiện nay, đồng thời tránh tình trạng chủ thể vi phạm lợi dụng khoảng cách giữa mức xử phạt hành chính và mức truy cứu trách nhiệm hình sự để tiếp tục thực hiện hành vi chôn, lấp, đổ, thải trái pháp luật với khối lượng lớn hơn ngưỡng xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa đạt ngưỡng cấu thành tội phạm.

Thứ năm, nghiên cứu, ban hành quy định về khả năng tái chế, tái sử dụng sản phẩm ngay từ khâu thiết kế, sản xuất. Quy định hiện hành của Việt Nam mới dừng lại ở việc phân loại chất thải thành nhóm có khả năng tái chế và nhóm không có khả năng tái chế, mà chưa đặt ra yêu cầu về khả năng tái chế, tái sử dụng sản phẩm ngay từ giai đoạn thiết kế, sản xuất. Việc tích hợp yêu cầu tái chế, tái sử dụng ngay từ khâu thiết kế sẽ giúp định hình sẵn lộ trình xử lý sản phẩm sau khi trở thành chất thải, đồng thời tạo điều kiện xác định sớm chủ thể có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý, từ đó mở rộng phương án lựa chọn tối ưu cho quá trình tái chế.

Trước sự phát triển không ngừng của các ngành, nghề công nghiệp tại Việt Nam, khối lượng và chủng loại chất thải rắn công nghiệp thông thường ngày càng đa dạng. Việc khai thác hiệu quả khả năng tái chế, tái sử dụng ngay từ khâu thiết kế, sản xuất sản phẩm sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các ngành, nghề liên quan, đáp ứng nhu cầu xã hội và góp phần bảo đảm mô hình kinh tế tuần hoàn.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy một số quốc gia đã ban hành quy định cụ thể về vấn đề này. Nhật Bản quy định trực tiếp về khả năng tái chế của sản phẩm trong đạo luật cơ bản về xây dựng xã hội dựa trên tái chế. Liên minh châu Âu cũng đã ban hành các văn bản pháp lý liên quan, bao gồm quy định về vòng đời phương tiện giao thông, chất thải bao bì và đóng gói, pin và pin thải, chất thải điện tử và linh kiện điện tử thải bỏ [6]. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, các nhà lập pháp cần nghiên cứu, xây dựng và ban hành quy định về khả năng tái chế, tái sử dụng sản phẩm ngay từ khâu thiết kế, sản xuất. Trước mắt, cần xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện thông qua các biện pháp như ưu đãi thuế, hỗ trợ quảng bá sản phẩm, tạo cơ chế liên kết giữa các doanh nghiệp có nhu cầu. Về lâu dài, yêu cầu bảo đảm khả năng tái chế, tái sử dụng ngay từ khâu thiết kế, sản xuất cần được nghiên cứu để tiến tới trở thành điều kiện bắt buộc đối với chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này.

4. Kết luận

Trong nhiều năm qua, hoạt động quản lý chất thải rắn thông thường trong lĩnh vực công nghiệp luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện qua hệ thống pháp luật được hoàn thiện liên tục qua các thời kỳ, từ Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, năm 2005, năm 2014 đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Là công cụ pháp lý hữu hiệu để kiểm soát ô nhiễm môi trường và bảo đảm chất lượng sống của cộng đồng, pháp luật về lĩnh vực này cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đi kèm cơ chế khuyến khích đầu tư cho hoạt động quản lý chất thải song song với kiểm soát nguy cơ ô nhiễm phát sinh từ chính hoạt động đó. Đồng thời, cần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ chuyên môn, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm và đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, qua đó góp phần hạn chế khối lượng chất thải phát sinh, bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội gắn liền với bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

Tài liệu tham khảo

1. Chử Trọng Nghĩa (2022), “Một số điểm mới trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 về quản lý chất thải rắn sinh hoạt”, Tạp chí Luật sư điện tử. Truy cập tại: https://lsvn.vn/mot-so-diem-moi-trong-luat-bao-ve-moi-truong-nam-2020-ve-quan-ly-chat-thai-ran-sinh-hoat-1670898208.html.

2. Học viện Hành chính Quốc gia (2024), “Quản lý rác thải sinh hoạt ở đô thị – Thực trạng và giải pháp”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.

3. Lê Kim Nguyệt, Chử Trọng Nghĩa (2022), “Quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại Thành phố Hà Nội và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật điện tử. Truy cập tại: https://danchuphapluat.vn/quan-ly-chat-thai-ran-sinh-hoat-tu-thuc-tien-tai-thanh-pho-ha-noi-va-de-xuat-huong-hoan-thien-phap-luat.

4. Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2020), “Cơ chế lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6, tr. 55–67.

5. Trịnh Thị Thủy, Đặng Thị Nhung (2023), “Pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, Tạp chí Khoa học Tây Nguyên, tập 17, số 62.

6. Hoàng Diệp Hà (2023), Quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

Nguồn: TRƯƠNG HỮU THẮNG 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan