Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thông qua tiêu chí “việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ”, nhưng không lượng hóa nội hàm của tiêu chí này. Trong tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động, khoảng trống đó bộc lộ rõ ở một chủ thể đặc thù: tổ chức công đoàn cơ sở và ban lãnh đạo của tổ chức này.
Bài viết xác định bốn khoảng trống pháp lý, so sánh tiến trình lập pháp từ Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Công đoàn năm 2012 đến Bộ luật Lao động năm 2019 và Luật Công đoàn năm 2024, phân tích đối trọng giữa hai quan điểm về tư cách tố tụng của công đoàn cơ sở, đối chiếu với Án lệ số 70/2023/AL và Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ ngày 31/8/2023 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một tiêu chí chức năng ba bước để phân định tư cách đương sự với tư cách người làm chứng, kiến nghị bổ sung hướng dẫn áp dụng pháp luật và phát triển án lệ, đồng thời nêu một số khuyến nghị nghiệp vụ.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
1. Đặt vấn đề
1.1. Tình huống làm phát sinh vấn đề nghiên cứu
Tại một phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà tác giả tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, thủ tục bắt đầu phiên tòa đã dừng lại ngay ở bước kiểm tra sự có mặt. Toàn bộ các thành viên Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở – những người đã được Tòa án xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – đều vắng mặt, với cùng một nguyên nhân: tất cả họ đã chấm dứt hợp đồng lao động và không còn làm việc tại doanh nghiệp bị kiện. Sau khi nghe ý kiến của các bên và của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa để xem xét lại việc triệu tập và xác định lại chủ thể tham gia tố tụng.
Nếu chỉ dừng ở mô tả, đây là một sự cố tố tụng thông thường. Nhưng tình huống này có giá trị chẩn đoán: nó cho thấy một quyết định được ban hành từ nhiều tháng trước – quyết định xác định ai là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – đã không được kiểm tra lại, và chỉ bộc lộ hệ quả khi một sự kiện nhân sự hoàn toàn bình thường trong đời sống doanh nghiệp xảy ra.
1.2. Vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu của bài viết được xác định như sau: pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật lao động hiện hành chưa thiết lập tiêu chí đủ rõ để xác định tư cách tham gia tố tụng của tổ chức công đoàn cơ sở và ban lãnh đạo của tổ chức này trong tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động; đồng thời chưa xác định chủ thể tham gia tố tụng là tổ chức công đoàn hay là từng cá nhân thành viên ban lãnh đạo. Hệ quả là việc xác định tư cách phụ thuộc đáng kể vào đánh giá chủ quan của người tiến hành tố tụng, kéo theo rủi ro về thời gian giải quyết vụ án và rủi ro về hiệu lực của bản án.
Từ vấn đề đó, bài viết đặt bốn câu hỏi nghiên cứu:
(i) Cơ sở pháp lý nào dẫn đến sự hiện diện của tổ chức công đoàn cơ sở trong hồ sơ vụ án lao động, và cơ sở đó đã thay đổi như thế nào qua các lần sửa đổi pháp luật?
(ii) Tổ chức công đoàn cơ sở nên tham gia tố tụng với tư cách đương sự hay tư cách người làm chứng, và tiêu chí phân định là gì?
(iii) Chủ thể tham gia tố tụng là tổ chức công đoàn cơ sở hay từng cá nhân thành viên ban lãnh đạo, và cách xác định này tạo ra hệ quả tố tụng gì khi những cá nhân đó không còn quan hệ lao động với doanh nghiệp?
(iv) Cần bổ sung, hướng dẫn hoặc phát triển án lệ theo hướng nào để khắc phục các khoảng trống đã nhận diện?
1.3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Bài viết giới hạn ở tranh chấp lao động cá nhân về chấm dứt hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, không bàn về tranh chấp lao động tập thể và tính hợp pháp của đình công. Phương pháp được sử dụng gồm phân tích quy phạm, so sánh lịch sử lập pháp, phân tích án lệ và phân tích tình huống thực tiễn. Tác giả xin lưu ý một giới hạn của bài viết: phần khảo sát thực tiễn xét xử mới ở mức khung phân tích và giả thuyết, chưa đạt quy mô mẫu đủ để đưa ra kết luận định lượng về mức độ không thống nhất giữa các Tòa án.
2. Khoảng trống pháp lý
2.1. Khoảng trống thứ nhất: Tiêu chí “liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ” chưa được lượng hóa
Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng; trường hợp không có ai đề nghị thì Tòa án phải chủ động đưa họ vào tham gia tố tụng. Điều luật nêu tiêu chí nhưng không xác định nội hàm của cụm từ “có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ”. Trong khoa học pháp lý và thực tiễn, đã có ý kiến chỉ rõ rằng chính sự thiếu vắng tiêu chí cụ thể khiến việc áp dụng phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của người tiến hành tố tụng hơn là vào thực tế khách quan, và nhấn mạnh rằng việc xác định sai tư cách tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng là một vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng – nghĩa là xác định thừa cũng nguy hiểm không kém xác định thiếu.
2.2. Khoảng trống thứ hai: Chủ thể là tổ chức hay là ban lãnh đạo?
Bộ luật Lao động năm 2019 quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động phải trao đổi ý kiến với “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở” (Điều 42, Điều 44), nhưng khi quy định về bảo vệ cán bộ công đoàn lại sử dụng khái niệm “ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở” (Điều 177). Hai khái niệm này không đồng nhất: một bên là pháp nhân hoặc tổ chức, một bên là cơ quan lãnh đạo của tổ chức đó. Pháp luật tố tụng dân sự không có quy định riêng để chuyển hóa khái niệm “ban lãnh đạo” thành một chủ thể tố tụng xác định. Đây là điểm khởi nguồn của thực tiễn triệu tập riêng lẻ từng thành viên ban lãnh đạo mà bài viết sẽ phân tích tại Phần 5.
2.3. Khoảng trống thứ ba: Không có cơ chế xử lý khi ban lãnh đạo không còn quan hệ lao động
Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 điều chỉnh việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng khi đương sự là cá nhân chết hoặc khi tổ chức chấm dứt hoạt động, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức. Tuy nhiên, tình huống thực tiễn phổ biến trong tranh chấp lao động lại nằm ngoài các giả định đó: tổ chức công đoàn cơ sở vẫn tồn tại nhưng toàn bộ ban lãnh đạo đã chấm dứt quan hệ lao động, hoặc tổ chức công đoàn cơ sở trên thực tế đã ngừng hoạt động mà chưa có quyết định giải thể chính thức của công đoàn cấp trên. Pháp luật hiện hành chưa dự liệu trực tiếp cách xử lý cho các trạng thái trung gian này.
2.4. Khoảng trống thứ tư: Thiếu hướng dẫn về tống đạt đối với người đã rời doanh nghiệp
Chương X Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định việc tống đạt tại nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của tổ chức, nhưng không có hướng dẫn cho tình huống người tham gia tố tụng được xác định thông qua chức danh gắn với một doanh nghiệp mà nay họ không còn làm việc tại đó. Thực tiễn xử lý bằng cách gửi văn bản tố tụng qua chính doanh nghiệp bị kiện – một cách làm tiện lợi nhưng đặt ra vấn đề về tính hợp lệ và về xung đột lợi ích.
3. Tiến trình lập pháp và khung pháp luật thực định
3.1. Từ Bộ luật Lao động năm 2012 đến Bộ luật Lao động năm 2019
Bộ luật Lao động năm 2012 tiếp cận vấn đề theo hướng định danh trực tiếp: khoản 7 Điều 192 buộc người sử dụng lao động phải thỏa thuận bằng văn bản với Ban Chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác hoặc kỷ luật sa thải đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách; khoản 6 Điều 192 buộc gia hạn hợp đồng lao động đến hết nhiệm kỳ công đoàn. Ở giai đoạn này, đối tác pháp lý của người sử dụng lao động được luật gọi đích danh là “Ban Chấp hành công đoàn cơ sở”.
Bộ luật Lao động năm 2019 thay đổi cách tiếp cận. Do thừa nhận sự tồn tại song song của công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp, Bộ luật sử dụng khái niệm khái quát “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở” và “ban lãnh đạo” của tổ chức đó. Khoản 3 Điều 177 giữ nguyên cơ chế thỏa thuận bằng văn bản, bổ sung bước báo cáo cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thời hạn chờ 30 ngày khi không thỏa thuận được; khoản 4 Điều 177 giữ nghĩa vụ gia hạn hợp đồng lao động đến hết nhiệm kỳ. Sự thay đổi này mở rộng phạm vi chủ thể nhưng đồng thời làm mờ đường biên giữa “tổ chức” và “cơ quan lãnh đạo của tổ chức” – một hệ quả có ý nghĩa trực tiếp đối với tố tụng.
3.2. Từ Luật Công đoàn năm 2012 đến Luật Công đoàn năm 2024
Luật Công đoàn năm 2024 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, thay thế Luật Công đoàn năm 2012 và sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 97/2025/QH15. Luật xác định rõ hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam gồm bốn cấp: cấp trung ương; cấp tỉnh, ngành trung ương và tương đương; cấp trên trực tiếp cơ sở; và cấp cơ sở, đồng thời điều chỉnh việc gia nhập Công đoàn Việt Nam của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Việc luật hóa cấu trúc bốn cấp có ý nghĩa tố tụng đáng kể: nó cung cấp cơ sở để xác định chủ thể kế thừa khi công đoàn cơ sở chấm dứt hoạt động, và cung cấp một địa chỉ xác minh khách quan – công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở – độc lập với doanh nghiệp bị kiện.
3.3. Bối cảnh tổ chức Tòa án sau ngày 01/7/2025
Từ ngày 01/7/2025, hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo ba cấp; các Tòa án nhân dân cấp cao kết thúc hoạt động, Tòa án nhân dân cấp tỉnh được bổ sung thẩm quyền phúc thẩm và giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực. Thay đổi này không làm biến đổi nội dung các quy định về tư cách đương sự, nhưng làm thay đổi bản đồ khắc phục sai sót: một bản án sơ thẩm lao động của Tòa án nhân dân khu vực nay được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Điều này khiến việc bảo đảm tính chính xác của thủ tục ngay từ cấp sơ thẩm càng có ý nghĩa thực tế.
3.4. Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ ngày 31/8/2023
Đây là văn bản hướng dẫn nội bộ đáng chú ý nhất của hệ thống công đoàn về vấn đề đang bàn. Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ xác định Công đoàn có thể tham gia tố tụng dân sự với bốn nhóm tư cách: đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của đương sự, người đại diện do Tòa án chỉ định theo khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Có hai chi tiết trong Hướng dẫn này rất đáng lưu ý. Thứ nhất, chủ thể được Hướng dẫn nhắc đến xuyên suốt là “Công đoàn” và “Công đoàn cơ sở” – tức là tổ chức, không phải từng cá nhân ủy viên ban chấp hành. Thứ hai, khi mô tả tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hướng dẫn diễn đạt theo cơ chế đề nghị – chấp nhận: Công đoàn tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận. Cách diễn đạt này phản ánh quan niệm rằng tư cách đương sự của công đoàn là kết quả của một đánh giá cụ thể, chứ không phải một mặc định áp dụng cho mọi vụ án lao động.
Bảng 1. So sánh khung pháp lý liên quan đến vị trí của công đoàn cơ sở trong tranh chấp chấm dứt hợp đồng lao động
| Tiêu chí | Giai đoạn trước 01/01/2021 | Giai đoạn hiện hành |
| Văn bản áp dụng | Bộ luật Lao động 2012; Luật Công đoàn 2012 | Bộ luật Lao động 2019; Luật Công đoàn 2024 (sửa đổi 2025) |
| Chủ thể đại diện người lao động | Công đoàn cơ sở (mô hình đơn nhất) | Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở: công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp |
| Đối tác thỏa thuận khi chấm dứt HĐLĐ với cán bộ công đoàn | Ban Chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (khoản 7 Điều 192) | Ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở; nếu không thỏa thuận được thì báo cáo cơ quan chuyên môn về lao động cấp tỉnh và chờ 30 ngày (khoản 3 Điều 177) |
| Trao đổi ý kiến khi cho thôi việc vì lý do cơ cấu, kinh tế | Có quy định tương ứng | Khoản 6 Điều 42 và khoản 2 Điều 44 Bộ luật Lao động 2019 |
| Hướng dẫn về tư cách tố tụng của công đoàn | Chưa có văn bản hướng dẫn tập trung | Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ ngày 31/8/2023 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam |
| Nguồn án lệ liên quan | Chưa có | Án lệ số 70/2023/AL (áp dụng từ 01/11/2023) |
4. Hai quan điểm về tư cách tố tụng của tổ chức công đoàn cơ sở
4.1. Quan điểm thứ nhất: Tổ chức công đoàn cơ sở là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Đây là quan điểm chiếm ưu thế trong thực tiễn xét xử. Theo tác giả, cần trình bày đầy đủ các luận cứ của quan điểm này trước khi bàn tới bất kỳ phê phán nào, bởi các luận cứ đó không hề yếu.
Thứ nhất, về nghĩa vụ của Tòa án. Câu thứ hai của khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đặt ra một nghĩa vụ chủ động: nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng thì Tòa án phải đưa họ vào. Khi còn nghi ngờ, Thẩm phán ở vào thế phải lựa chọn giữa rủi ro bỏ sót và rủi ro đưa thừa; pháp luật chỉ quy định rõ hậu quả của rủi ro thứ nhất.
Thứ hai, về đối tượng đánh giá của bản án. Trong nhiều vụ án, Tòa án không chỉ xem xét biên bản trao đổi ý kiến như một tài liệu, mà phải đánh giá giá trị pháp lý, hiệu lực và tính hợp pháp của chính hoạt động do tổ chức công đoàn thực hiện: trình tự triệu tập cuộc họp ban chấp hành, thẩm quyền của người ký, tính hợp lệ của đại hội, giá trị của quyết định công nhận do công đoàn cấp trên ban hành. Khi bản án kết luận rằng một hoạt động của tổ chức công đoàn là không hợp lệ, kết luận đó ảnh hưởng đến uy tín, đến hiệu lực của các văn bản đã ban hành và đến quyền tự quản nội bộ của tổ chức. Trong những trường hợp như vậy, khó có thể nói rằng việc giải quyết vụ án không liên quan đến quyền lợi của công đoàn.
Thứ ba, về bảo đảm tranh tụng. Tư cách người làm chứng chỉ cho phép chủ thể trình bày những gì mình biết; tư cách đương sự cho phép chủ thể tiếp cận hồ sơ, đưa ra yêu cầu, tranh luận và kháng cáo (Điều 70, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Nếu tính hợp pháp trong hoạt động của một tổ chức bị đưa ra đánh giá, việc chỉ cho tổ chức đó tư cách người làm chứng có thể bị coi là chưa bảo đảm đầy đủ quyền tự bảo vệ.
Thứ tư, về khả năng phát sinh nghĩa vụ gián tiếp. Trong một số cấu hình tranh chấp, kết luận của bản án có thể trở thành tiền đề cho một vụ kiện khác liên quan đến trách nhiệm của tổ chức công đoàn hoặc của cán bộ công đoàn.
Thứ năm, về sự thừa nhận trong nguồn luật hiện hành. Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ ghi nhận tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của Công đoàn như một trong các tư cách chính thức; và quan trọng hơn, thực tiễn xét xử ở cấp cao nhất đã vận hành theo hướng này.
Bằng chứng thực tiễn: Án lệ số 70/2023/AL
Án lệ số 70/2023/AL, có nguồn từ Quyết định giám đốc thẩm số 06/2022/LĐ-GĐT ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, là một minh chứng trực tiếp cho quan điểm thứ nhất.[10] Trong vụ án này, nguyên đơn là ông Vương Quốc A – Chủ tịch Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở – khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn K Việt Nam về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Điều đáng chú ý về mặt tố tụng là Công đoàn Công ty trách nhiệm hữu hạn K Việt Nam được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đã trình bày ý kiến về trình tự, thủ tục đại hội. Trên nội dung, Tòa án đã trực tiếp đánh giá tính hợp lệ của việc ứng cử, trúng cử chức danh Chủ tịch Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở và kết luận rằng việc trúng cử cùng quyết định công nhận do công đoàn cấp trên ban hành là không hợp lệ về tiêu chuẩn người ứng cử, người trúng cử.
Vụ án này cũng cho thấy chi phí của việc xác định tư cách và đánh giá chứng cứ chưa thống nhất giữa các cấp xét xử: bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, bản án phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm và buộc doanh nghiệp thanh toán hơn 216 triệu đồng, sau đó bản án phúc thẩm bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm và bản án sơ thẩm được giữ nguyên. Toàn bộ chu trình kéo dài từ năm 2016 đến năm 2022.
Theo tác giả, Án lệ số 70/2023/AL cho thấy quan điểm thứ nhất là đúng đắn đối với nhóm vụ án mà tính hợp pháp trong hoạt động của tổ chức công đoàn trở thành đối tượng đánh giá của bản án. Đây là điểm mà mọi phân tích phê phán đều phải xuất phát.
4.2. Quan điểm thứ hai: Tổ chức công đoàn cơ sở chỉ nên là người làm chứng
Quan điểm thứ hai xuất phát từ việc lượng hóa tiêu chí tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bằng một phép thử cụ thể. Tác giả Quách Thị Giang đề xuất tiêu chí như sau: để xác định một chủ thể có phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không, Tòa án cần dự kiến rằng khi chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chủ thể đó có được hưởng quyền lợi hay phải thực hiện nghĩa vụ gì đối với các đương sự khác hay không; nói cách khác, họ có trở thành người được thi hành án hoặc người phải thi hành án hay không. Nếu không, họ chỉ có thể là người làm chứng, tùy thuộc vào các thông tin, tài liệu mà họ nắm giữ.
Áp dụng phép thử này vào nhóm vụ án chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, kết quả thường là: toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ bản án theo Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 – nhận lại người lao động, trả tiền lương những ngày không được làm việc, đóng bảo hiểm, bồi thường – đều thuộc về người sử dụng lao động. Phần quyết định của bản án không xác định bất kỳ quyền lợi hay nghĩa vụ nào của tổ chức công đoàn. Trong cấu hình này, giá trị của biên bản trao đổi ý kiến là giá trị của một nguồn chứng cứ, và hiểu biết của các thành viên ban chấp hành về diễn biến cuộc họp là đặc trưng của lời khai người làm chứng.
Quan điểm thứ hai còn dựa trên một lập luận về chi phí tố tụng: mỗi chủ thể được đưa vào với tư cách đương sự đồng thời tạo ra một nghĩa vụ tống đạt, một khả năng phải hoãn phiên tòa và một chủ thể có quyền kháng cáo. Thực tiễn đã ghi nhận trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không được Tòa án quyết định vấn đề gì về quyền, nghĩa vụ nhưng vẫn kháng cáo, làm kéo dài thời gian giải quyết và phát sinh hệ quả về lãi chậm thực hiện nghĩa vụ đối với bên phải thi hành án.
4.3. Bình luận và quan điểm của tác giả
Theo quan điểm của tác giả, cả hai quan điểm nêu trên đều có cơ sở, và điểm yếu chung của chúng là cùng đi tìm một câu trả lời duy nhất cho một nhóm tình huống vốn không đồng nhất. Vấn đề không phải là công đoàn cơ sở “luôn luôn” hay “không bao giờ” là đương sự, mà là xác định được biến số quyết định.
Tác giả cho rằng biến số đó là: tính hợp pháp trong hoạt động của tổ chức công đoàn có trở thành một đối tượng phải đánh giá trong phần nhận định của bản án hay không. Nếu có, quan điểm thứ nhất là đúng và Án lệ số 70/2023/AL là minh chứng. Nếu không, phép thử của quan điểm thứ hai cho kết quả thuyết phục hơn. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một tiêu chí chức năng ba bước, để cân nhắc và tiếp tục thảo luận:
Bước 1: Kiểm tra đối tượng đánh giá: việc giải quyết vụ án có đòi hỏi Tòa án phải kết luận về tính hợp pháp, hiệu lực hoặc giá trị pháp lý của một hoạt động, một văn bản do tổ chức công đoàn ban hành hay không? Nếu có, tổ chức công đoàn cơ sở tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bước 2: Kiểm tra lợi ích riêng: nếu không thuộc Bước 1, tổ chức công đoàn có yêu cầu độc lập hoặc có lợi ích vật chất, tài sản nào có thể bị ảnh hưởng bởi phán quyết hay không? Nếu có, tư cách đương sự là phù hợp.
Bước 3: Xác định tư cách còn lại: nếu không thuộc cả hai bước trên, tư cách người làm chứng theo Điều 77 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp hơn; trong trường hợp này, các văn bản do công đoàn ban hành vẫn được sử dụng đầy đủ với tư cách nguồn chứng cứ mà không cần thiết lập quan hệ tố tụng của một đương sự.
Tiêu chí này có ưu điểm là có thể áp dụng ngay ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, dựa trên yêu cầu khởi kiện và ý kiến của bị đơn, mà không cần chờ đến khi có bản án. Tác giả ý thức rằng đây mới là một đề xuất bước đầu, cần được kiểm chứng qua khảo sát thực tiễn rộng hơn và qua trao đổi khoa học, đặc biệt ở ranh giới của Bước 1 – nơi mà mức độ “phải đánh giá tính hợp pháp” có thể được nhận thức khác nhau giữa các Thẩm phán.
5. Chủ thể tham gia tố tụng: Tổ chức công đoàn hay từng thành viên Ban chấp hành?
Nếu vấn đề tại Phần 4 còn để ngỏ cho tranh luận, thì theo quan điểm của tác giả, vấn đề tại Phần này có câu trả lời rõ ràng hơn nhiều và ít gây tranh cãi hơn.
Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở là cơ quan lãnh đạo của tổ chức công đoàn cơ sở giữa hai kỳ đại hội, không phải một tập hợp các chủ thể pháp luật độc lập. Người đại diện của công đoàn cơ sở trong quan hệ với bên ngoài, bao gồm quan hệ tố tụng, là Chủ tịch Công đoàn cơ sở hoặc người được ủy quyền hợp pháp. Cả Án lệ số 70/2023/AL và Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ đều nhất quán ở điểm này: chủ thể được nêu tên là tổ chức – “Công đoàn Công ty trách nhiệm hữu hạn K Việt Nam”, “Công đoàn cơ sở” – chứ không phải từng ông, bà ủy viên ban chấp hành.
Hai cách xác định chủ thể tạo ra hai hệ quả tố tụng hoàn toàn khác nhau khi có biến động nhân sự:
Nếu chủ thể là tổ chức: việc các cá nhân ủy viên ban chấp hành chấm dứt hợp đồng lao động không làm chấm dứt tư cách đương sự. Tổ chức vẫn tồn tại; vấn đề duy nhất là xác định lại người đại diện hợp pháp hiện tại. Đây là vấn đề thay đổi người đại diện, không phải kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, và về nguyên tắc không đủ để làm gián đoạn phiên tòa.
Nếu chủ thể là từng cá nhân: tư cách “liên quan” của họ được xây dựng trên một nền tảng thực tế đã biến mất – họ ký các văn bản với tư cách ủy viên ban chấp hành của doanh nghiệp, nay không còn tư cách đó và cũng không còn quan hệ lao động. Cái còn lại ở họ là hiểu biết cá nhân về những sự kiện đã xảy ra, tức đặc trưng của người làm chứng.
Từ đó, tình huống nêu tại Phần 1 có thể được đọc như một phép thử chẩn đoán: nếu chủ thể được xác định là tổ chức, việc toàn bộ ban chấp hành nghỉ việc về nguyên tắc không gây ra hệ quả tố tụng đáng kể. Việc nó gây ra hệ quả nghiêm trọng đến mức phải hoãn phiên tòa là một chỉ dấu cho thấy hồ sơ đã được xây dựng theo hướng cá nhân hóa chủ thể. Theo quan điểm của tác giả, đây là điểm cần được ưu tiên khắc phục, bởi nó không đòi hỏi phải giải quyết trước cuộc tranh luận học thuật ở Phần 4: dù theo quan điểm thứ nhất hay quan điểm thứ hai, chủ thể tố tụng vẫn phải là tổ chức công đoàn cơ sở.
Trường hợp tổ chức công đoàn cơ sở đã thực sự giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc bị sáp nhập theo quyết định của công đoàn cấp trên thì mới đặt ra vấn đề kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, với chủ thể kế thừa – theo logic tổ chức của hệ thống công đoàn bốn cấp – là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở.
6. Khảo sát thực tiễn xét xử: Khung phân tích và giả thuyết
Để chứng minh mức độ không thống nhất trong thực tiễn, cần một khảo sát trên mẫu bản án đã công bố. Trong phạm vi bài viết này, tác giả mới xây dựng được khung khảo sát và nêu giả thuyết; số liệu định lượng sẽ được bổ sung ở phiên bản hoàn chỉnh. Khung khảo sát được đề xuất như sau.
6.1. Nguồn dữ liệu và tiêu chí chọn mẫu
Nguồn: Cổng thông tin điện tử công bố bản án, quyết định của Tòa án nhân dân Tối cao; tuyển tập án lệ; các quyết định giám đốc thẩm được công bố; hồ sơ vụ việc của tổ chức hành nghề luật sư.
Tiêu chí chọn mẫu: bản án sơ thẩm và phúc thẩm về “tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” hoặc “tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải”, trong đó hồ sơ có sự tham gia của tổ chức công đoàn cơ sở hoặc thành viên ban chấp hành công đoàn cơ sở.
Khung thời gian đề xuất: từ ngày 01/01/2021 (thời điểm Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực) đến thời điểm khảo sát, để bảo đảm tính đồng nhất về luật nội dung được áp dụng.
6.2. Biến số cần mã hóa
Bảng 2. Khung mã hóa dữ liệu bản án
| STT | Biến số | Các giá trị mã hóa |
| 1 | Tư cách của công đoàn trong vụ án | Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan / Người làm chứng / Không tham gia tố tụng / Không xác định rõ |
| 2 | Chủ thể được triệu tập | Tổ chức công đoàn cơ sở / Từng cá nhân ủy viên ban chấp hành / Cả hai / Không rõ |
| 3 | Bản án có đánh giá tính hợp pháp hoạt động công đoàn không | Có / Không |
| 4 | Phần quyết định có nội dung nào về quyền, nghĩa vụ của công đoàn không | Có / Không |
| 5 | Số lần hoãn phiên tòa và lý do hoãn | Số lần; lý do liên quan đến sự vắng mặt của công đoàn (Có/Không) |
| 6 | Kết quả phúc thẩm, giám đốc thẩm | Giữ nguyên / Sửa / Hủy; nếu hủy thì có phải do vi phạm thủ tục tố tụng không |
| 7 | Tổng thời gian giải quyết | Từ ngày thụ lý đến ngày bản án có hiệu lực |
6.3. Các giả thuyết cần kiểm chứng
Giả thuyết 1: tỷ lệ vụ án xác định tổ chức công đoàn cơ sở là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cao hơn đáng kể so với tỷ lệ vụ án mà phần quyết định của bản án có nội dung về quyền, nghĩa vụ của công đoàn.
Giả thuyết 2: tồn tại sự khác biệt giữa các Tòa án trong việc lựa chọn giữa tư cách đương sự và tư cách người làm chứng đối với cùng một cấu hình tranh chấp.
Giả thuyết 3: trong các vụ án xác định từng cá nhân ủy viên ban chấp hành là đương sự, số lần hoãn phiên tòa trung bình cao hơn so với các vụ án xác định chủ thể là tổ chức.
Giả thuyết 4: nhóm vụ án mà bản án phải đánh giá tính hợp pháp trong hoạt động công đoàn có tỷ lệ bị sửa, hủy cao hơn nhóm còn lại.
Nếu các giả thuyết trên được kiểm chứng, chúng sẽ củng cố nhận định rằng khoảng trống pháp lý nêu tại Phần 2 không chỉ là vấn đề lý thuyết. Tác giả trân trọng đề nghị các đồng nghiệp và bạn đọc cùng đóng góp dữ liệu bản án để hoàn thiện phần khảo sát này.
7. Sự vắng mặt của đương sự và chế độ hoãn phiên tòa
7.1. Khoản 1 Điều 227 là quy phạm mệnh lệnh
Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Điều luật sử dụng từ “phải hoãn” với duy nhất một ngoại lệ, không trao cho Hội đồng xét xử thẩm quyền đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự vắng mặt. Ở lần triệu tập hợp lệ thứ hai, cơ chế mới chuyển sang hướng linh hoạt theo khoản 2 Điều 227, trong đó người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà vắng mặt và không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Từ đó có thể rút ra một nhận xét về trình tự ưu tiên: câu hỏi “sự vắng mặt này có ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hay không” là câu hỏi chính đáng nhưng phải được đặt ra và giải quyết ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, khi Tòa án còn có thể điều chỉnh tư cách tham gia tố tụng; đến thời điểm khai mạc phiên tòa, mọi tư cách đã được xác lập trong quyết định đưa vụ án ra xét xử và cơ chế mệnh lệnh của khoản 1 Điều 227 được kích hoạt.
7.2. Phân biệt hoãn phiên tòa với tạm ngừng phiên tòa
Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cho phép Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa khi cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa; thời hạn tạm ngừng không quá 01 tháng. Tạm ngừng có ưu điểm kỹ thuật: phiên tòa được coi là đang diễn ra, thành phần Hội đồng xét xử được giữ nguyên, các thủ tục đã tiến hành không phải làm lại. Tuy nhiên, khi căn cứ trực tiếp là sự vắng mặt của đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì khoản 1 Điều 227 là quy phạm chuyên biệt và mang tính mệnh lệnh, do đó phải được ưu tiên áp dụng. Tạm ngừng chỉ trở thành lựa chọn khả dụng khi vấn đề duy nhất là xác minh tư cách chủ thể mà không đồng thời có sự vắng mặt của đương sự đã được triệu tập hợp lệ.
7.3. Việc tính lần triệu tập tiếp theo và Án lệ số 12/2017/AL
Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định hoãn (khoản 1 Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Vấn đề đáng quan tâm hơn là lần triệu tập tiếp theo được tính là lần thứ mấy. Án lệ số 12/2017/AL đưa ra giải pháp cho trường hợp Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa mà lý do hoãn không phải do lỗi của đương sự: khi phiên tòa được mở lại mà đương sự được triệu tập hợp lệ vẫn vắng mặt, phải xác định đây là trường hợp vắng mặt tại lần triệu tập hợp lệ thứ nhất.
Theo quan điểm của tác giả, suy luận theo hướng ngược lại của án lệ này cho kết quả đáng lưu ý đối với tình huống đang bàn: vì lý do hoãn xuất phát chính từ sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên tại phiên tòa được mở lại, nếu họ tiếp tục vắng mặt mà đã được triệu tập hợp lệ, có cơ sở để xác định đây là lần triệu tập hợp lệ thứ hai và Hội đồng xét xử có thể tiến hành xét xử vắng mặt họ theo khoản 2 Điều 227. Điều kiện tiên quyết vẫn là việc tống đạt lần này phải thực sự hợp lệ.
8. Tính hợp lệ của việc triệu tập
Toàn bộ cơ chế xử lý sự vắng mặt tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được xây dựng trên giả định rằng việc triệu tập là hợp lệ. Nếu giả định này không thỏa mãn, mọi tính toán về lần thứ nhất hay lần thứ hai đều mất cơ sở.
Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng phải tuân thủ Chương X Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (từ Điều 170 đến Điều 181), theo đó văn bản tố tụng được tống đạt tại nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của tổ chức. Khi Tòa án xác định từng ủy viên ban chấp hành công đoàn cơ sở là người tham gia tố tụng, giấy triệu tập trên thực tế thường được gửi về địa chỉ doanh nghiệp bị kiện. Cách làm này đặt ra hai vấn đề khi những người đó đã nghỉ việc: về mặt pháp lý, doanh nghiệp không còn là địa chỉ hợp pháp để tống đạt cho người không còn quan hệ lao động; về mặt bảo đảm khách quan, doanh nghiệp là bên có lợi ích đối lập trong vụ án, nên việc giao cho một bên đương sự nhiệm vụ chuyển giấy triệu tập tới người tham gia tố tụng khác là một xung đột lợi ích cần được nhận diện.
Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, đề nghị đúng đắn nhất mà luật sư có thể đưa ra khi phát hiện tình huống không phải là “đề nghị hoãn” hay “đề nghị tiếp tục xét xử”, mà là đề nghị Hội đồng xét xử công bố kết quả tống đạt: văn bản đã được gửi tới địa chỉ nào, ai ký nhận, có biên bản niêm yết công khai hay không.
9. Vai trò và giá trị pháp lý của ý kiến Viện Kiểm sát
Phạm vi tham gia phiên tòa sơ thẩm của Viện kiểm sát được xác định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án theo Điều 262 Bộ luật này. Ý kiến của Viện kiểm sát không có giá trị ràng buộc đối với Hội đồng xét xử, bởi nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã được ghi nhận tại Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và có nền tảng hiến định.
Trong tình huống nêu tại Phần 1, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa vì căn cứ tại khoản 1 Điều 227 buộc phải hoãn, chứ không phải vì đó là đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Cách diễn đạt “Viện kiểm sát đề nghị nên Tòa án hoãn” phản ánh đúng diễn biến bề mặt nhưng mô tả chưa chính xác bản chất của quan hệ tố tụng. Điều này không làm giảm giá trị thực tiễn của ý kiến Viện kiểm sát: trong nhiều trường hợp, phát biểu của Kiểm sát viên có vai trò cảnh báo sớm về rủi ro thủ tục. Đó là giá trị phòng ngừa, không phải giá trị mệnh lệnh.
10. Hệ quả pháp lý của việc xác định không chính xác tư cách đương sự
Việc xác định không chính xác tư cách người tham gia tố tụng có thể dẫn tới việc bản án sơ thẩm bị hủy theo khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hoặc bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Cần nhấn mạnh rằng rủi ro này có tính hai chiều: bỏ sót người tham gia tố tụng là vi phạm, nhưng xác định thừa cũng là xác định sai và cũng có thể bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Về mặt chi phí thời gian, so sánh giữa hai phương án là rõ ràng: một quyết định hoãn phiên tòa kéo dài tối đa 01 tháng, trong khi một bản án bị hủy có thể đưa vụ án trở lại điểm xuất phát sau nhiều năm. Diễn biến của vụ án là nguồn của Án lệ số 70/2023/AL – kéo dài từ năm 2016 đến năm 2022 qua ba cấp xét xử – là một minh họa cụ thể.
11. Kiến nghị
11.1. Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn áp dụng pháp luật
Thứ nhất, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó xác định tiêu chí nhận diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng: chủ thể được đưa vào tham gia tố tụng với tư cách này khi việc giải quyết vụ án có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền hoặc nghĩa vụ của họ đối với đương sự khác, hoặc khi Tòa án phải kết luận về tính hợp pháp, hiệu lực của hoạt động, văn bản do họ ban hành. Hướng dẫn nên nêu rõ rằng việc xác định thừa tư cách đương sự cũng là xác định không đúng.
Thứ hai, đề nghị bổ sung một hướng dẫn chuyên biệt cho tranh chấp lao động, xác định rõ: khi tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở tham gia tố tụng thì chủ thể tham gia là tổ chức đó, do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền thực hiện; không triệu tập riêng lẻ từng thành viên ban lãnh đạo với tư cách đương sự, trừ trường hợp quyền, nghĩa vụ của cá nhân họ trực tiếp bị đặt ra trong vụ án.
Thứ ba, đề nghị Tòa án nhân dân Tối cao xem xét lựa chọn, phát triển án lệ về xác định tư cách tham gia tố tụng của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Án lệ số 70/2023/AL đã giải quyết vấn đề nội dung nhưng chưa hình thành giải pháp pháp lý cho vấn đề tư cách tố tụng, vốn là vấn đề lặp lại với tần suất cao hơn.
Thứ tư, đề nghị bổ sung hướng dẫn về tống đạt trong trường hợp người tham gia tố tụng được xác định thông qua chức danh gắn với một doanh nghiệp mà nay không còn làm việc tại đó, theo hướng: Tòa án xác minh nơi cư trú và tống đạt trực tiếp, không sử dụng đương sự khác trong cùng vụ án làm kênh chuyển giao văn bản tố tụng.
Thứ năm, đề nghị Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nghiên cứu bổ sung Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ theo hướng làm rõ trách nhiệm của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong việc xác nhận tình trạng hoạt động, danh sách ban chấp hành và người đại diện của công đoàn cơ sở khi có yêu cầu của Tòa án, cũng như trách nhiệm tiếp nhận tư cách kế thừa khi công đoàn cơ sở chấm dứt hoạt động.
11.2. Kiến nghị nghiệp vụ đối với Tòa án
Đưa nội dung xác định tư cách người tham gia tố tụng thành một mục bắt buộc được ghi nhận trong biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo Điều 208 và Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thu thập ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử: quyết định thành lập hoặc công nhận công đoàn cơ sở, quyết định công nhận ban chấp hành tại thời điểm ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, và văn bản xác nhận tình trạng hoạt động hiện tại của công đoàn cơ sở do công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở cung cấp.
Xác minh nơi cư trú của những người đã chấm dứt hợp đồng lao động trước khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.
11.3. Kiến nghị nghiệp vụ đối với luật sư
Tác giả đề xuất một bảng kiểm cần được trả lời dứt điểm trước ngày mở phiên tòa trong các vụ án lao động có yếu tố công đoàn: (1) những ai đang được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và căn cứ nào; (2) tư cách đó thỏa mãn tiêu chí tại khoản 4 Điều 68 hay thực chất là tư cách người làm chứng; (3) chủ thể được triệu tập là tổ chức hay từng cá nhân; (4) tổ chức công đoàn cơ sở còn tồn tại không và ai là người đại diện hợp pháp hiện tại; (5) những người này còn làm việc tại doanh nghiệp không, nơi cư trú hiện tại ở đâu; (6) hồ sơ đã có biên lai tống đạt hoặc biên bản niêm yết hợp lệ chưa; (7) có ai đã nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt chưa; (8) nếu phát hiện bất cập, đã có văn bản kiến nghị gửi Tòa án trước ngày mở phiên tòa chưa.
Cần lưu ý một giới hạn nghề nghiệp: Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận nghĩa vụ của đương sự phải sử dụng quyền của mình một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án và của đương sự khác. Rà soát tư cách tham gia tố tụng là nghiệp vụ; sử dụng thủ tục như một công cụ trì hoãn lại là chuyện khác.
11.4. Kiến nghị đối với doanh nghiệp và tổ chức công đoàn cơ sở
Lưu trữ đầy đủ hồ sơ trao đổi ý kiến với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, ghi rõ họ tên, chức danh, ngày tháng và chữ ký của từng người tham dự.
Khi ban chấp hành thay đổi hoặc thành viên ban chấp hành chấm dứt hợp đồng lao động: lập biên bản bàn giao, báo cáo và cập nhật với công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, lưu giữ thông tin liên hệ của người đã nghỉ việc.
Khi triển khai phương án tái cơ cấu ảnh hưởng đến nhiều người lao động, dự liệu trước rằng những người ký vào phương án sử dụng lao động hôm nay có thể phải có mặt tại Tòa án sau đó một đến hai năm, khi họ đã không còn làm việc tại doanh nghiệp.
12. Kết luận
Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đưa ra một tiêu chí đúng nhưng chưa đủ cụ thể để vận hành, và trong tranh chấp lao động, khoảng trống đó gặp thêm một khoảng trống thứ hai từ pháp luật lao động: sự thiếu rõ ràng giữa “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở” và “ban lãnh đạo” của tổ chức đó. Nơi hai khoảng trống gặp nhau, thực tiễn hình thành một thói quen dễ hiểu nhưng chưa được kiểm chứng đầy đủ: đưa toàn bộ ban chấp hành công đoàn cơ sở vào vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bài viết không cho rằng tổ chức công đoàn cơ sở luôn chỉ là người làm chứng. Án lệ số 70/2023/AL cho thấy có một nhóm vụ án mà tư cách đương sự của tổ chức công đoàn là hoàn toàn có cơ sở, đó là khi tính hợp pháp trong hoạt động của tổ chức này trở thành đối tượng đánh giá của bản án. Điều tác giả đề xuất là một tiêu chí chức năng cho phép phân định hai nhóm tình huống ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, thay vì áp dụng một giải pháp chung cho mọi vụ án.
Ở một tầng khác, ít gây tranh cãi hơn nhưng có lẽ quan trọng hơn về mặt thực tiễn, là việc phân biệt giữa tổ chức công đoàn cơ sở và từng cá nhân thành viên ban chấp hành. Cả án lệ và hướng dẫn của hệ thống công đoàn đều nhất quán rằng chủ thể tham gia tố tụng là tổ chức. Khi thực tiễn đi chệch khỏi điểm này, một biến động nhân sự bình thường trong doanh nghiệp cũng đủ làm gián đoạn một phiên tòa – đúng như tình huống đã dẫn ở đầu bài viết.
Những đề xuất trong bài viết mới ở mức nêu vấn đề và gợi mở hướng xử lý. Tác giả mong nhận được ý kiến trao đổi của các nhà nghiên cứu, Thẩm phán, Kiểm sát viên và đồng nghiệp luật sư, đặc biệt là các dữ liệu bản án có thể giúp kiểm chứng các giả thuyết nêu tại Phần 6.
Nguồn: Luật sư NGUYỄN DOÃN HÙNG – Tạp chí điện tử luật sư Việt Nam






Để lại một bình luận