Thủ tục lập vi bằng theo quy định tại Nghị định 151/2026/NĐ-CP

Chính phủ đã ban hành Nghị định 151/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, thừa hành viên. Trong đó, có quy định chi tiết về thủ tục lập vi bằng từ ngày 01/7/2026.

Theo đó, Điều 30 Nghị định 151/2026/NĐ-CP quy định về nội dung, hình thức, thủ tục lập vi bằng cụ thể như sau: Thừa hành viên phải trực tiếp chứng kiến, lập vi bằng, chịu trách nhiệm trước người yêu cầu và pháp luật về vi bằng do mình lập. Trường hợp cần thiết, Thừa hành viên có quyền mời người làm chứng chứng kiến việc lập vi bằng. Khi lập vi bằng, Thừa hành viên phải giải thích rõ cho người yêu cầu về giá trị pháp lý của vi bằng. Người yêu cầu phải ký hoặc điểm chỉ vào vi bằng.

Vi bằng được lập bằng hình thức văn bản giấy hoặc văn bản điện tử trên môi trường số, chữ viết sử dụng của vi bằng là tiếng Việt, có nội dung chủ yếu sau đây:

– Tên, địa chỉ của văn phòng thi hành án dân sự; họ, tên, số Thẻ Thừa hành viên lập vi bằng;

– Địa điểm, thời gian lập vi bằng;

– Họ, tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người yêu cầu lập vi bằng;

– Họ, tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người tham gia khác (nếu có);

– Nội dung của sự kiện, hành vi được ghi nhận;

– Lời cam đoan của Thừa hành viên về tính trung thực và khách quan trong việc lập vi bằng;

– Nội dung khác (nếu có).

Vi bằng phải có chữ ký của Thừa hành viên, người yêu cầu và có thể có chữ ký của người tham gia khác; được đóng dấu văn phòng thi hành án dân sự. Trường hợp vi bằng lập bằng hình thức văn bản giấy có từ 2 trang trở lên, Thừa hành viên ký và đánh số thứ tự vào từng trang; vi bằng có từ 02 tờ trở lên phải được đóng dấu giáp lai; số lượng bản chính của mỗi vi bằng do các bên thỏa thuận.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Việc điểm chỉ được thực hiện trong trường hợp người yêu cầu lập vi bằng hoặc người tham gia khác không ký được do khuyết tật hoặc không biết ký. Người điểm chỉ sử dụng ngón trỏ phải, nếu không điểm chỉ được bằng ngón trỏ phải thì điểm chỉ bằng ngón trỏ trái, trường hợp không điểm chỉ bằng hai ngón trỏ thì điểm chỉ bằng ngón khác và Thừa hành viên phải ghi rõ việc điểm chỉ bằng ngón tay nào, của bàn tay nào.

Vi bằng phải kèm theo hình ảnh của Thừa hành viên khi chứng kiến sự kiện, hành vi và có thể kèm theo các tài liệu chứng minh. Vi bằng phải được gửi cho người yêu cầu và được lưu trữ tại văn phòng thi hành án dân sự theo quy định tại Điều 50 Nghị định này và pháp luật về lưu trữ.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc lập vi bằng, văn phòng thi hành án dân sự phải cập nhật vào cơ sở dữ liệu về tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên. Trường hợp không thể thực hiện cập nhật theo quy định tại khoản này thì văn phòng thi hành án dân sự phải gửi ngay vi bằng, tài liệu chứng minh (nếu có) đến Sở Tư pháp nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở để vào sổ theo dõi vi bằng. Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ theo dõi vi bằng. Vi bằng, sổ theo dõi vi bằng thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.

Nguồn: Minh Anh – Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan